VẤN ĐỀ PHÁ THAI
Lm. Phêrô Trần Mạnh Hùng, STD
DẪN
NHẬP
Trong
phần này này, tôi xin được trình bày với quí vị độc giả về vấn đề phá thai. Có
thể nói đây là một trong những vấn đề khá khẩn thiết và gây ra không ít vấn nạn
cho nhiều người, đặc biệt là giới lãnh đạo tinh thần. Song song với những lý do
nêu trên, nó còn là một đề tài tranh luận khá sôi nổi giữa các nhóm về tình trạng
luân lý của phôi, đặc biệt là phôi hoặc thai nhi có được cái quyền sống như một
con người hay không?[1] Những
người ủng hộ “quyền phá thai” lý luận rằng: phôi thai chưa phải là một nhân vị,
do đó chưa hoàn toàn được hưởng quyền sống như một con người bình thường. Ngược
lại, những người chống phá thai thì lập luận cho rằng: phôi thai thực sự là người,
một nhân vị ngay từ giây phút thụ tinh, do đó quyền sống của phôi thai là một
quyền bất khả xâm phạm. Một vài nhóm khác, ủng hộ việc phá thai thì lại nhấn mạnh
đến quyền tự do quyết định của phụ nữ đối với thân thể của họ và quyền được trục
xuất một bào thai khi có lý do chính đáng. Ngược lại, những nhóm khác lại nhấn
mạnh, trên quyền được sống của thai nhi như là quyền tuyệt đối. Chúng ta sẽ lần
lượt bàn thảo và xem xét vấn đề một cách hết sức thận trọng, hy vọng sẽ rút ra
được những phương cách thực tiễn nhằm giải đáp phần nào thỏa đáng những vấn nạn
mà chúng ta đang gặp phải.
Vậy,
trước tiên, tôi sẽ cố gắng giải toả một số khúc mắc khi chúng ta thảo luận về
việc phá thai.
I. Cần giải toả một vài khúc mắc
II. Thời
điểm khởi đầu sự sống con người
III. Khi nào thì được phép tước đoạt mạng sống con
người?
I.
GIẢI TỎA MỘT VÀI KHÚC MẮC
Phá thai không chỉ là một vấn đề có tính
cách liên quan đến xã hội, pháp lý, y học và luân lý, mà còn là vấn đề dễ gây
xúc động. Các ý kiến về vấn đề này thường chỉ dựa trên các giả thuyết, các tiền
đề và những cảm xúc thuộc về tiềm thức. Tuy nhiên, các giả thuyết và cảm xúc ấy
lại thường có tác động quyết định đối với các quan điểm được thừa nhận. Đứng
trước các thách đố do việc phá thai đặt ra, chúng ta cần phải nỗ lực không ngừng
để có thể đưa ra những lập luận vững chắc, duy lý và có sức thuyết phục, đồng
thời cần có một thái độ khiêm tốn, sẵn sàng đối thoại với bất cứ ai không có
chung cùng một quan điểm hoặc lập trường như chúng ta. Như thế, chúng có thể
làm giảm bớt tính cách căng thẳng của những gợi ý và đề xuất liên quan đến vấn
đề rất dễ gây xúc động này, cùng một lúc vẫn có thể đưa ra được một số nguyên tắc
khách quan, làm nền tảng cho việc thảo luận.
Chúng ta sẽ tiếp cận
vấn đề phá thai trong tư thế là những người thuộc về truyền thống Do thái -
Ki-tô giáo. Truyền thống này không ngừng nhắc nhở và đề cao sự thật mà Chúa
Ki-tô đã mang đến cho chúng ta, đó là lệnh truyền: “chúng ta hãy yêu thương
nhau như chính Chúa đã yêu thương chúng ta”. Lòng kính trọng của chúng ta đối với
sự thánh thiện của sự sống con người thuộc về một cảm nhận thực tiễn, vừa là kết
quả tự nhiên, và là áp dụng cần thiết phải có, được đón nhận từ lệnh truyền căn
bản của Chúa Ki-tô. Bởi lẽ, yêu ai cũng có nghĩa là sẵn lòng làm cho người ấy
được hạnh phúc toàn diện trong tư cách một con người, và sự sống chính là điều
thiện hảo căn bản nhất của con người.Trong thực tiễn, kính trọng sự thánh
thiêng của sự sống con người tức là có nghĩa vụ phải chống lại bất cứ kẻ nào
xâm phạm sự sống con người, dù là dưới bất cứ hình thức nào. Sự sống con người
luôn phải được coi là một giá trị cao quý, mà chúng ta không được phép hủy diệt,
và chúng ta chỉ có thể tránh khỏi luật buộc đó trong những trường hợp ngoại lệ.
Hơn nữa, những trường hợp ngoại thường đó phải được minh chứng, không phải chỉ
dựa trên sự tự do, cũng không phải chỉ trên tính bất khả xâm phạm của sự sống
con người ngay từ lúc khởi đầu. Cần ghi nhận rằng: sự bảo vệ mà truyền thống
Ki-tô giáo chúng ta dành cho sự sống con người, cũng có giá trị như nó được bảo
tồn và trình bày trong học thuyết về chiến tranh chính nghĩa, là học thuyết tiền
giả định một giá trị tương phản với giá trị luân lý của một cuộc chiến phi
nghĩa.
Dĩ nhiên, khi khẳng định
rằng sự sống con người tự căn bản là bất khả xâm phạm, thì truyền thống Ki-tô
giáo không có ý coi sự sống con người như là một cái gì tuyệt đối không được đụng
đến. Vì vậy, theo truyền thống, Ki-tô giáo vẫn có thể coi là khả dĩ chấp nhận
được, về phương diện luân lý, một cuộc chiến có chính nghĩa cùng với sự hủy diệt
nhân mạng mà nó kèm theo. Thêm vào đó, theo truyền
thống luân lý Ki-tô giáo trước đây cũng đã khẳng định tính hợp pháp của án tử
hình, mặc dù cách đây ít lâu, Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã lên tiếng đòi bãi bỏ
luật tử hình, cũng như chính Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã lên tiếng kêu
gọi cộng đồng thế giới hãy xóa bỏ án tử hình.[2] Đặc biệt hơn hết là Đức cố Giáo hoàng Phanxicô, từ khi được bầu lên ngôi vị Giáo hoàng, Đấng kế vị Thánh Phêrô để điều
hành và cai quản Giáo hội Công giáo hoàn vũ, đã không ngừng lên tiếng kêu gọi
bãi bỏ hình phạt tử hình, cũng như tù chung thân mà Ngài đã mô tả nó như là một
bản án tử hình ẩn dấu.[3] Mặc
dù Ngài ghi nhận rằng trong khi các giáo huấn truyền thống của Giáo Hội Công
Giáo không loại trừ án tử hình, nhưng điều đó chỉ được chấp nhận khi không có
cách nào khác để bảo vệ xã hội, một lập trường mà dường như không tồn tại ngày
nay, nơi các hệ thống công lý và nhà tù hiện đại đã tỏ ra rất có hiệu quả trong
việc bảo vệ cộng đồng chống lại bọn tội phạm nguy hiểm.[4] Đồng
thời, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đã gợi ý rằng: các xã hội hiện đại đã sử dụng
quá mức hình phạt dành cho các tội hình sự, điều này xảy ra, một phần vì được
bắt nguồn từ xu hướng cổ xưa muốn trừng trị và hiến tế các tội nhân đã bị cáo
buộc tấn công vào cộng đồng.[5]
Như tôi đã trình
bày ở trên là truyền thống
luân lý Ki-tô giáo không có ý coi sự sống con người như là một cái gì tuyệt đối
không thể bị tước đoạt, vì trong thực tế, Giáo hội Công giáo vẫn công nhận quyền
tự vệ chống lại kẻ xâm lược bất chính, thậm chí đến mức gây ra cái chết nếu cần.
Chúng ta bảo vệ quyền tự do được tự quyết của bệnh nhân, được đón nhận cái chết,
sau khi đã tìm hết cách chữa trị nhưng vẫn vô phương cứu chữa và khi biết rằng
việc sử dụng các phương tiện y khoa hiện đại và ngoại thường cũng chỉ kéo dài sự
sống vô ích. Những thí dụ đó minh họa cho sự thật này: mạng sống con người, mặc
dù thánh thiêng và tự căn bản là bất khả xâm phạm, vẫn không cần và không thể
phải được bảo vệ hoặc kéo dài với bất cứ giá nào.[6] Một
cách tương tự như vậy, chẳng có chỗ nào trong truyền thống Ki-tô giáo chúng ta
duy trì một cách giản đơn lời khẳng định rằng mạng sống của người vô tội là tuyệt
đối bất khả xâm phạm.[7]
Nói đúng hơn, điều mà chúng ta kiên trì tranh luận là mạng sống người vô tội bất
khả xâm phạm trong trường hợp có sự đàn áp trực tiếp, nhưng đôi khi, trong một
số trường hợp, điều ấy có thể xảy ra cách giáp tiếp. Sự phân biệt giữa sát hại
gián tiếp và sát hại trực tiếp được coi là có tính cách quyết định, và như
chúng ta sẽ thấy, nó đóng một vai trò quan trọng trong những suy tư của Giáo Hội
Công Giáo liên quan đến vấn đề phá thai.
Với cố gắng làm sáng
tỏ những gì là trọng yếu trong cuộc tranh luận về việc phá thai, và đồng thời,
để cho lý trí, chứ không phải cảm xúc, điều khiển, chúng ta cần phải xác định rất
rõ ngay từ đầu: chẳng ai có thể thu được lợi lộc gì bởi sự khăng khăng nhấn mạnh
rằng: phá thai là sát nhân. Khi chúng ta đồng hóa việc phá thai với tội sát
nhân một cách đơn giản, lập tức và tự động như vậy, tức là chúng ta đã gây ra một
sự lẫn lộn giữa hai khía cạnh khác biệt của một thực tại. Nói cách khác, “sát
nhân” theo định nghĩa, là một từ thuộc về một phán quyết luân lý. Nó được dùng
để miêu tả một hành vi tự bản chất là phi luân lý. “Sát nhân” tức là có ác tâm
sát hại mạng người một cách bừa bãi, giết hại mạng sống con người với ý định xấu
xa. Vì luôn gắn liền với một phán quyết luân lý tiêu cực, hành vi sát nhân
không thể có mục đích tự thân là chính đáng, cũng không thể làm phương tiện hầu
thực thi bất cứ mục đích nào khác. Trái với từ “sát nhân” vốn không thể tránh
né, song luôn luôn phải gắn liền với một nội dung luân lý, “phá thai” có thể được
định nghĩa cách đơn giản là một hạn từ thể lý, chứ không phải luân lý.[8] Đó
là việc trục xuất hoặc gây ra việc trục xuất bào thai đang còn sống khỏi tử
cung, trước thời kỳ khai hoa mãn nguyệt (trước khi sanh). Cách mô tả phá thai
như vậy không bao hàm một nội dung luân lý. Từ “phá thai” theo định nghĩa,
không phải là một từ thuộc về phán quyết luân lý, dù tích cực hay tiêu cực.
Vì thế, đồng hoá ngay
lập tức và tự động hành vi phá thai (có tính thể lý) với hành vi sát nhân (vốn
vô luân), cách làm đó không thể là cách thức bắt đầu cuộc hội thảo, mà là kết
thúc nó. Để cho chính xác, phải nhận rằng mệnh đề “phá thai là giết người” bao
hàm một số tiền đề hoặc tiền giả định. Ở mệnh đề đó có hai kết luận hay phán
quyết đã được đưa ra rồi. Cụ thể, đó là phán quyết về việc phá thai (tức là việc
một bào thai, một mạng người đã bị tống khứ) và phán quyết về tính cách bất
chính của hành vi đó. Để hiểu được lập trường của một số người về một vấn đề
nào đó, tốt nhất là đừng bắt đầu bằng một kết luận, song hãy khảo sát và trình
bày những giả thuyết của anh ta. Vì vậy, tôi trộm nghĩ: cuộc thảo luận về vấn đề
phá thai sẽ hữu ích, thú vị và chính xác hơn khi nói rằng: quả thực phá thai có
bao gồm việc sát hại sự sống. Vấn đề cần xác định là (1) việc phá thai có luôn
kéo theo sự hủy diệt mạng sống con người hay không? và (2) việc hủy diệt mạng sống
con người đang còn trong giai đoạn phôi hoặc bào thai có chính đáng và có bênh
vực được không, hay luôn luôn là bất chính? Phá thai là giết người, chỉ khi đó
là hành vi hủy diệt mạng sống con người, và là hủy diệt không có lý do chính
đáng hay tương xứng, tức là làm cách bất chính. Bắt đầu vấn đề với cách thức
như thế, chúng ta sẽ nhận ra ngay tầm quan trọng của hai câu hỏi mà chúng ta sẽ
tuần tự trả lời sau đây:
1. Sự
sống con người bắt đầu từ khi nào?
2. Khi
nào thì phôi thai người có thể bị hủy diệt, nếu quả thực có sự chính đáng cho
hành vi hủy diệt đó?
II.
KHỞI ĐIỂM SỰ SỐNG CỦA CON NGƯỜI
Người ta đã đưa ra nhiều lý thuyết khác nhau
bàn về thời điểm khởi đầu sự sống con người. Các lý chứng được đề nghị để nhận
biết về khởi điểm sự sống con người thuộc một trong các sự kiện sau: thời điểm
trứng thụ tinh, thời điểm trứng làm tổ trong tử cung, thời điểm phân đoạn (khi
trứng đã thực sự được cá thể hoá, đến độ sự lưỡng phân không thể xảy ra nữa), sự
xuất hiện các xung động thần kinh trong bào thai, thời điểm thai có thể phát
triển được, thời điểm đứa trẻ chào đời, thời điểm đứa trẻ bắt đầu ứng đáp với
tiến trình xã hội hoá. Trong các lý thuyết trên đây, có ba lý thuyết - xác định
sự khởi đầu sự sống con người bằng 1) sự thụ tinh, 2) sự phân đoạn, và 3) sự xuất
hiện các xung động não - có lẽ xứng đáng để đem ra bình luận hơn cả. Tuy nhiên,
trước khi khảo sát ba lý thuyết đáng chú ý đó, chúng ta cần nhắc lại rằng: Giáo
Hội Công Giáo La Mã mặc dầu vẫn thừa nhận là vấn đề thời điểm khởi đầu sự sống
con người chưa thể giải quyết được (xét về phương diện lý thuyết),[9]
nhưng trong thực tế, vẫn duy trì lập trường cho rằng sự sống con người[10]
hiện diện từ lúc xảy ra sự thụ tinh:
“Ngay từ giây phút thụ tinh, sự sống của mỗi người phải được tôn trọng cách tuyệt đối, vì con người là thụ tạo duy nhất trên trần gian được Thiên chúa dựng nên vì chính nó, và linh hồn của mỗi người được Thiên Chúa trực tiếp tạo dựng.”[11]
Lý do Giáo Hội nhấn mạnh trên lập trường ấy chính là: khi
phải đương đầu với một sự hồ nghi về sự kiện (trường hợp ở đây là sự sống con
người bắt đầu khi nào), chúng ta cần đi theo đường lối hành động an toàn. Và
trong trường hợp này, giải pháp an toàn nhất là sự sống con người bắt đầu với sự
việc trứng thụ tinh (còn gọi là hợp tử), thay vì là vào một lúc nào sau đó
trong tiến trình phát triển của phôi hoặc thai.
Bây giờ,
chúng ta sẽ thận-trọng khảo sát một số luận-cứ được sử dụng để xác định thời điểm
khởi đầu sự sống con người.
1.
Sự
thụ tinh:
Những
người chủ trương sự sống con người đã có từ lúc trứng thụ tinh quả quyết (không
phải là không hợp lý) rằng: kể từ lúc ấy, đã có một số tổ hợp gien mới chắc chắn
không phải là của bất cứ loài nào khác loài người, nhưng cũng khác hẳn với cơ cấu
di truyền của cả cha lẫn mẹ. Do đó, không bao giờ được xem trứng mới thụ tinh
chỉ là một khối tế bào trong lòng người mẹ, như Huấn thị Donum vitae và Tuyên
ngôn của Thánh bộ Tín Lý và Đức Tin về vấn đề phá thai đã khẳng định.
“Ngay từ khi trứng
được thụ tinh, một sự sống mới được bắt đầu mà sự sống ấy không phải của cha
cũng chẳng phải của mẹ, nhưng đúng hơn đó là sự sống mới của một con người mới
và nó có thể tự mình phát triển”.[12]
Vì chính lý do đó, các lý chứng ủng hộ quyền được phá
thai của người phụ nữ nại vào quyền bảo vệ tự do riêng tư cá nhân hay quyền được
tùy thích hành xử với thân thể của họ, các lý chứng ấy lộ rõ tính cách giả dối
đáng kinh khiếp của chúng. Những người chủ trương như thế đã quan niệm một cách
đơn giản rằng: trong vòng vài tuần hoặc vài tháng sau khi trứng đã được thụ
tinh, không có sinh thể nào hiện diện và liên quan, ngoại trừ sự sống của người
mẹ.
Đồng thời, cũng cần nói ngay rằng: tuy trứng đã thụ tinh
rõ ràng đã là một sinh thể mang tính người về mặt di truyền, một cái trứng của
con người, khác hẳn với trứng của bất kỳ loài nào khác, nhưng sự kiện đó, tự
nó, chưa đủ để kết luận rằng đã có một nhân vị hiện hữu từ lúc trứng vừa mới thụ
tinh. Tuy là một sinh thể mang tính người, trứng vừa thụ tinh chắc chắn có tiềm
năng và khả năng phát triển thành một nhân vị. Nhưng chưa thể nói rằng nguyên sự
có tiềm năng trở thành một nhân vị là lập tức đã đủ để gắn cho cái trứng vừa thụ
tinh đó tên gọi một nhân vị. Bởi nếu vậy, mỗi tế bào của sinh thể mang tính người
đó đều phải được xem như một nhân vị, suốt thời kỳ phát triển đầu tiên của sinh
thể đó, dù nó là một hợp tử, một phôi dâu hay một phôi bào. Vì chưng, mỗi một tế
bào đó đều có tiềm năng thành một con người, nói cách khác, tất cả các tế bào của
sinh thể đang ở giai đoạn phát triển đầu tiên ấy, đều là các "tế bào toàn
năng"(Totipotent cells); chúng có đầy đủ tiềm năng để tự phát triển một
cách hoàn chỉnh, giả sử nếu chúng kịp thời được tách khỏi những tế bào khác, và
sau đó được đem cấy vào vách tử cung của một người nữ, nếu thành công, thì
chúng có thể phát triển thành một con người thực sự. Vì theo sự khảo-sát của các chuyên gia nghành y,
thì tiến trình phát triển nơi con người được bắt đầu khi tinh trùng làm cho trứng
(noãn) thụ tinh[13],
và sau đó tạo nên một tế bào duy nhất, gọi là hợp- tử, tế bào này có khả năng tự
tại phát triển thành một cơ thể (organism). Vì thế, trứng thụ tinh (hợp tử) còn
được coi như là tế bào toàn-năng. Sau khi trứng đã được thụ tinh, chỉ vài tiếng
đồng hồ sau (khoảng 4-6 tiếng), hợp tử sẽ tự động phân chia thành nhiều tế bào
toàn-năng (totipotent cells), đồng chất thể về mặt di truyền. Vì lý do đó, mà
giả thể ta lấy một tế bào toàn-năng (đã được phân chia sau khi trứng đã thụ
tinh) đem cấy vào vách tử cung của người phụ nữ (nếu thành công) thì tế bào này
có khả năng phát triển thành bào thai. Từ đó, ta có thể giải thích hiện tượng
sinh đôi, là một trứng sau khi đã thụ tinh, tự phân chia làm 2 tế bào toàn-năng
riêng biệt và rồi sau đó sẽ tự phát triển thành 2 cá thể riêng rẽ. Do đó, xét về
mặt di- truyền thì trẻ em sinh đôi có cùng chung một gien y hệt như nhau.[14]
Những người chủ trương “sự sống phát sinh ngay lập tức”
(Immediate Animation), thì cho rằng cả sự sống con người lẫn nhân vị đều bắt đầu
hiện diện vào thời điểm trứng thụ tinh, những người ấy đang ủng hộ lý thuyết
sinh lực tức thời và thuyết nhân hoá hay nhân vị hoá lập tức. Sau đây, tôi xin
được trình bày hai lý thuyết khác cũng ủng hộ thuyết sinh lực tức thời, nhưng
cho rằng sự nhân hoá sẽ diễn ra một cách tiệm tiến. Điều đó có nghĩa là họ chấp
nhận có một khoảng cách thời gian giữa sự xuất hiện của một sinh thể mang tính
người về mặt di truyền (vào lúc trứng thụ tinh) và sự xuất hiện của một nhân vị.
2.
Lý
thuyết tăng trưởng
Lý
thuyết này chứng thực cho niềm tin rằng: nhất thiết phải diễn ra một vài sự
tăng trưởng nơi phôi thai trước khi sinh thể mang tính người ấy được coi như là
một “con người” thực sự. Lý thuyết này dùng hai cách thức để xem xét vấn đề khởi
đầu sự sống con người như là một cá thể riêng biệt. Sau đây sẽ là phần trình
bày chi tiết hơn về hai cách thức đó.
Cách thứ nhất hết sức cổ xưa, và đơn giản chỉ là sự áp dụng
một số ý tưởng căn bản của triết học.
Cách
thức thứ hai mới mẻ hơn, và dựa trên những bước tiến của các công trình nghiên
cứu, nhờ vào những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại trong ngành phôi thai học
hiện thời.
Trước hết, chúng ta sẽ khảo sát các lý do thuần lý và cổ
xưa của lập trường cho rằng: sự xuất hiện của sự sống cá nhân không trùng hợp với
việc trứng thụ tinh.
Cả Aristote lẫn thánh Thomas Aquinas đều theo thuyết nhân
hoá tiệm tiến.[15]
Các ngài chủ trương rằng: mặc dù có sức sống (sinh lực) ngay từ lúc trứng thụ
tinh, nhưng sức sống đó được giải thích nhờ sự hiện diện trước hết của một sinh
hồn, và sau đó là nhờ sự hiện diện của giác hồn. Theo Aristote và thánh Thomas,
mọi vật sống đều có hồn; hồn (của sinh vật) chỉ là nguyên lý hoặc nguồn hay
sinh lực của sinh vật. Vì vậy, đối với trứng vừa được thụ tinh là cái đã mang
tính người về mặt di truyền, chúng ta có thể nói nó đã có, trước hết, một sinh
hồn (sức sống thực vật hay dinh dưỡng của mầm phôi), và sau đó là một giác hồn,
tức là cái giải thích và điều khiển khả năng cảm giác và dinh dưỡng của sinh thể
đang phát triển.[16]
Những sinh lực ấy được hiểu là các hồn chất thể, hướng dẫn liên tục sự tăng trưởng
của “phôi” (embryo) suốt những ngày, tuần và tháng đầu tiên.
Aristote và thánh Thomas đã đưa ra những lý lẽ rất đặc biệt
để chủ trương rằng sự sống của con người (mang tính chất cá-biệt), trong tiến
trình phát triển của phôi, cần có thời gian để xuất hiện. Nhưng lý lẽ đó được
các ngài trình bày, trong một học thuyết triết học: gọi là hình chất thuyết.[17]
Thuyết này cho rằng tất cả các thụ tạo hay vật-thể đều có hai nguyên lý hiện hữu,
cụ thể là chất-liệu và hình-thế, là hai nguyên lý bổ túc chặt chẽ cho nhau. Đối
với thánh Thomas, hình-thế của một vật được biết đầy đủ hơn nhờ hình thế bản-thể,
được đồng-hoá với hồn của vật-thể nếu, trong thực tế, vật-thể ấy là một vật sống.
Như vậy, giáo-huấn truyền-thống - theo quan-điểm - của thánh Thomas dạy rằng:
chỉ linh hồn của con người, vốn dĩ thiêng liêng, mới là hình thế bản-thể của
nhân-vị. Nói rằng linh hồn thiêng liêng là hình-thế bản-thể của con người, ấy
là chúng ta muốn nói chính nó là “cái làm cho sinh thể mang tính người thành
nhân-vị”. Tuy nhiên, cần nhớ rằng: bởi vì theo hình chất thuyết, chất-liệu và
hình-thế bổ túc chặt chẽ cho nhau, nên nói cách chính xác hơn, linh hồn thiêng
liêng của con người chỉ có thể là hình-thế bản-thể của con người, nếu nó có thể
bước vào sự hiện hữu độc nhất “trong một thân thể phức-hợp được cấu tạo hết sức
chặt chẽ [chất-liệu]”. Một cách khá đơn giản, học thuyết của thánh Thomas đi đến
chỗ cho rằng: linh hồn con người hay hình-thế bản-thể không hề hiện hữu trước
khi cơ cấu thể-lý của bào thai phát triển một cách đầy đủ, đến mức có thể đón
nhận hoặc thụ-lãnh linh hồn ấy, và rằng, trước khi linh hồn con người hiện diện
nơi bào thai, bào thai không phải là một nhân vị.
Ý nghĩa đầy đủ của hình chất thuyết, có lẽ sẽ được hiểu
rõ và tốt hơn, nếu nó được đặt tương phản với một học thuyết lớn khác là thuyết
nhị nguyên (Dualism). Một chủ thuyết được sử dụng để giải thích mối quan hệ giữa
linh hồn và thể xác con người. Cả Plato lẫn Descartes đều chủ trương rằng: linh
hồn và thân xác con người là hai thực tại phân biệt hoàn toàn, và là hai hữu-thể
độc-lập và tách biệt, cái này liên kết với cái kia như ông tài xế (linh hồn) với
chiếc xe hơi của ông ta (thể xác). Người tài xế có thể hiện hữu trước khi có
chiếc xe, thậm chí anh ta có thể làm ra chiếc xe mà sau này anh ta sẽ lái nó. Đối
với hình chất thuyết, thực tại hoàn toàn khác. Linh hồn con người không hiện hữu
trước khi có thể xác. Do đó, "linh hồn trong thể xác có phần tương tự như
cái hình thù của bức tượng nơi bức tượng đó"; hay chúng ta có thể nói:
linh hồn “giống như hình thù của toà nhà chỉ hiện hữu nơi ngôi nhà đã xây
xong”.
Am hiểu hình chất thuyết và việc trình bày của thuyết ấy
về tương quan giữa linh hồn và thể xác con người, Joseph F. Donceel, S.J., cho
rằng: linh hồn thiêng liêng chỉ có thể được phú ban cho một thân thể đã có những
cơ quan chính yếu của con người, gồm có: các giác quan, tim, phổi, hệ thần kinh
trung ương và bộ não, nhất là vỏ não. Có thể nói cách đơn giản rằng, linh hồn của
con người, vì là linh hồn của con người và vì là hình-thế bản-thể của con người,
nên chỉ có thể được “thiết lập” trong một thân xác đã được ban cho những bộ phận
cấu thành cần thiết - cho dù chưa đầy đủ - điều kiện của những hoạt động tinh
thần, đặc biệt của con người sau này như trí hiểu và ý muốn. Tất nhiên, cũng cần
ghi nhận rằng thánh Thomas không hề coi linh hồn con người như là kết quả của một
sự tiến hoá từ từ; đúng hơn, linh hồn được Thiên Chúa sáng tạo và phú vào sinh
thể mang tính người đang phát triển ngay khi sinh thể ấy sẵn sàng đón nhận nó.
Aristote và thánh Thomas ước tính khoảng thời gian đó dài từ 40 đến 90 ngày.[18]
Đó là một sự ước lượng rất đáng chú ý, phù hợp với những điều kiện mà ngày nay
chúng ta biết được về những giai đoạn phát triển của bào thai: sau 6 tuần (42 ngày),
tất cả các cơ quan bên trong của bào thai đã có mặt, sau 12 tuần (84 ngày), cấu
trúc của não đã đầy đủ.
Ở đây, cần nói rằng đối phương của học thuyết Thomas về sự
nhân vị hoá không tức thời, đã phản đối rằng: chính thánh Thomas có thể sẽ bỏ ý
tưởng của ngài về sự sáng tạo và việc Thiên Chúa không truyền ban tức thời linh
hồn thiêng liêng của con người, nếu ngài có được những lợi thế do sự tiến bộ,
trong các kiến thức sinh học như chúng ta có ngày nay. Nói cách khác, theo các
hiểu biết chúng ta có ngày nay về cấu tử cơ bản di truyền (DNA)
và phân tử di truyền tính
(RNA)[19]
rõ ràng trứng vừa thụ tinh của con người có thể thỏa mãn những điều kiện mà
thánh Thomas đưa ra về việc một sinh thể được cấu tạo đầy đủ và sẵn sàng đón nhận
một hồn người thiêng liêng. Vì vậy, có thể nói được rằng, nếu thánh Thomas sống
vào thời này, hẳn ngài sẽ nghiêng về lập trường nhân hoá tức thời (Immediate
Hominization) hơn là nhân hoá tiệm tiến (Mediate Hominization), và
sẽ nói cách đơn giản rằng linh hồn con người, và vì đó, nhân vị, hiện diện từ
lúc thụ tinh.[20]
Lối giải thích tân-tiến của lý thuyết tăng trưởng, cho rằng
sự sống cá nhân của con người, bắt đầu vào lúc mà các xung động thần kinh của
bào thai xuất hiện, như chúng ta có thể khám phá được nhờ việc sử dụng điện não
đồ (Electro-Encephalogram = EEG). Những khám phá về xung động não đó, có thể có
được vào tuần thứ tám của thai kỳ, và chúng trùng hợp khá sít sao với sự thay đổi
tên gọi từ mầm phôi sang bào thai theo sự phát triển của sinh thể. Sở dĩ có chủ
trương cho rằng: sinh mạng con người bắt đầu với sự khám phá các xung động não,
là vì có một sự song song giữa chủ trương đo, với căn cứ được sử dụng để giải
quyết vấn đề tuyên bố điểm tử của con người. Ngày nay, có một phong trào chủ
trương đồng nhất cái chết của con người với cái chết của não hoặc với việc con
người rơi vào một trạng thái hôn mê bất khả đảo ngược. Một trong những cách thức
xác định cái chết của con người hay sự chết của bộ não, đó là sử dụng điện não
đồ. Nếu sau hai lần đọc (mỗi lần từ 10 đến 20 phút) cách nhau 24 tiếng đồng hồ,
mà không thu nhận được bất cứ xung động nào của bộ não, thì khi ấy, có thể công
bố rằng các xung động não đã hoàn toàn không còn nữa, như đã ghi nhận được.
Trong những trường hợp như vậy, chúng ta có thể coi sự sống của con người đã kết
thúc, và con người đó có thể được tuyên bố là đã chết.
Tuy nhiên, cần nhận ra rằng: việc sử dụng điện não đồ
(EEG) để khẳng định cái chết, việc ấy nhất
thiết tiền giả định sự hiện diện của những dấu hiệu thông thường và rõ ràng của
sự chết. Những tiêu chuẩn thông thường của sự chết là: đương sự bất động, không
phản ứng gì đối với những kích thích gây đau đớn, không còn thở, không có phản
xạ gì, và con người trương lên bất động. Hơn nữa, giá trị của các dấu hiệu
thông thường của sự chết và của các yếu tố phù hợp với điện đồ não cần phải được
thẩm tra để loại trừ hai trường hợp sau đây: a) người đó phải không ở trong
tình trạng cơ thể hạ nhiệt độ (nhiệt độ cơ thể ở dưới 900F); b) hoặc tình trạng
liên quan đến việc sử dụng các chất kích thích tác động lên hệ thần kinh trung
ương. Khi các tiêu chuẩn đó đã được xác định rõ ràng, thì việc tuyên bố về cái
chết của một con người sẽ tránh được tính tùy tiện, và có giá trị.
Dựa trên những phân tích đó, ta có thể thấy được tính bất
hợp lý của lập trường chủ trương mạng sống con người bắt đầu với sự xuất hiện
có thể thẩm định được của các xung động não. Nói cách khác, chúng ta không thể
đơn giản cho rằng: vì cuộc sống con người kết thúc bằng sự biến mất của các
xung động có thể thẩm định được của não, nên có thể chủ trương rằng, mạng sống
con người bắt đầu với sự hoạt động của bộ não.
Như chúng ta vừa xem xét, tiêu chí của sự chết là sự biến mất không thể hồi phục của các xung động não, chứ không phải là sự thiếu vắng hay biến mất tạm thời. Trong hai tháng đầu của sự phát triển bào thai, các xung động não có thể chưa nhận ra được và chúng vẫn ở trong trạng thái chưa đo lường được, suốt một khoảng thời gian nào đo, kể từ lúc chúng xuất hiện. Tuy vậy, một điều chắc chắn là các xung động não của bào thai trong giai đoạn đó, không thể nói là đã biến mất không thể hồi phục. Thực tế, chúng sẽ xuất hiện. Vì vậy, việc sử dụng điện não đồ (EEG) để xác định khởi điểm cuộc sống con người là một việc làm không chuẩn về mặt phương pháp luận. Sự phủ nhận bào thai là một con người, trước khi có sự xuất hiện của các xung động não cũng tỏ ra bất ổn. Khi chúng ta lưu ý rằng: trong nỗ lực xác định một người đã chết hay chưa, việc kiểm tra xung động não bằng cách sử dụng điện não đồ (EEG) sẽ chỉ được áp dụng, sau khi đã áp dụng các tiêu chuẩn y khoa thông thường, để xác định cái chết mà vẫn còn một vài nghi ngờ, không biết đương sự đã chết thật chưa. Những nghi ngờ như vậy, dĩ nhiên, không được đặt ra đối với một phôi vừa mới xuất hiện và trái tim chỉ đập vào tuần thứ ba hoặc thứ tư, cũng như không được đặt ra với những người đang phản ứng đối với các chất kích thích.
3.
Thời
điểm phân đoạn
Về
việc khởi đầu sự sống con người, lý thuyết thứ ba mà chúng ta muốn khảo sát là
lý thuyết cho rằng: cuộc sống cá thể bắt đầu vào thời điểm phân đoạn, tức là cuộc
sống con người được xem như bắt đầu vào lúc, mà nó đã được củng cố và đã có sự ổn
định một cách bất khả thay đổi số lượng cơ thể sẽ phát triển trong kỳ thai
nghén đó. Có thể nói mạng sống con người xét như là một cá thể, chỉ có khi mà sự
phân chia và tăng bội tế bào thành gấp đôi gấp ba đã xong, và không thể đảo ngược
(bất khả hồi) được nữa, và vì vậy, tính cá biệt của cơ thể đang phát triển đã
được thiết lập và chắc chắn sẽ phát triển thành một con người.[21]
Những người bảo thủ ước tính độ dài thời gian xảy ra sự
phân đôi này là khoảng 7-8 ngày. Thời gian này tương ứng với thời gian cần thiết
để trứng đã thụ tinh làm tổ trong tử cung. Thoáng hơn, một số người ước tính thời
gian xảy ra sự phân đôi là 14-21 ngày sau trứng thụ tinh. Tuy nhiên, trong cách
lý giải của họ, ta thấy thời gian cần thiết để hình thành cá thể tính, và do
đó, để xuất hiện một con người cá biệt, theo lý thuyết này, chỉ tối đa là ba tuần,
ít hơn cả lượng thời gian mà thánh Tôma Aquinô
đưa ra trong hình chất thuyết của ngài, cũng như ít hơn lượng thời gian
được đề nghị bởi lý thuyết tăng trưởng hiện đại, là lý thuyết lấy sự xuất hiện
các xung động não của bào thai để làm cơ sở xác định điểm khởi đầu của cuộc sống
con người.
Lý lẽ căn bản để nói rằng một nhân vị không hiện diện trước
khi cá thể tính được thiết lập là: mỗi người là một cá thể. Về phương diện triết
học, điều đó có nghĩa là mỗi người đều bất khả phân chia, và do vậy, không thể
tự mình tách thành hai hoặc ba người hoặc hơn nữa. Một con người không thể tự
mình và trong mình trở thành hai hoặc hơn nữa. Ấy thế mà một cái trứng vừa mới
thụ tinh, trong một khoảng thời gian nào đó, vẫn có khả năng tự mình phân chia.
Khi khả năng đó hoạt động, hiện tượng nhân đôi sẽ xảy ra. Bao lâu mà cái khả
năng phân chia thành hai sinh thể riêng biệt đó, vẫn còn trong hợp tử đang tăng
triển, trong chừng mực đó, sẽ không có một thực thể cá biệt hoá, và vì thế,
chưa có sự hiện hữu của một nhân vị. Nếu không chấp nhận như thế thì phải nói rằng:
một con người có thể trở thành hai cá nhân hoặc hơn nữa![22]
Nhưng, như trên kia chúng ta đã trình bày, như thế là đã vi phạm định nghĩa triết
học về cá thể, vốn được hiểu là bất khả tự mình phân chia. Một tác giả viết về
điều ấy như sau: “Nếu trứng đã thụ tinh có thể tách thành hai thực thể và rồi
sau đó thành hai con người, thì thật là khó mà chấp nhận được rằng thoạt đầu,
nó (cái trứng đã thụ tinh) đã là một con người hoàn toàn là người”.
Bằng một lối nói rất rõ ràng, chính Donceel đã đưa ra một
trường hợp ngược lại với thuyết nhân hoá lập tức: “Hai anh em sinh đôi y hệt
nhau… khởi đầu cuộc sống từ cùng một trứng được thụ tinh từ một tinh trùng. Đối
với những người đề xướng thuyết nhân hoá lập tức, cái trứng đã thụ tinh đó chỉ
là một nhân vị. Vào đầu kỳ thai nghén, cái trứng đó tách thành hai phần (hoặc
hơn nữa), mỗi phần phát triển thành một con người trưởng thành. Thật khó dung
hoà sự kiện đó với thuyết nhân hoá lập tức. Một nhân vị không thể tách thành
hai hoặc hơn hai nhân vị”.
Quả quyết rằng: sự sống cá thể con người không có trước
khi cá thể tính được thiết lập, quả quyết đó còn được hậu thuẫn bởi sự kiện một
số nhà khoa học ước tính rằng: khoảng 1/3 đến 1/2 số lượng trứng đã thụ tinh
không bao giờ làm tổ được trong tử cung, nhưng chúng bị trục xuất khỏi tử cung
vào kỳ kinh nguyệt sau đó của người phụ nữ.[23] Các
trứng đã thụ tinh nhưng không làm tổ đó, sẽ rơi ra ngoài giống như các trứng
chưa thụ tinh. Tuy nhiên, vì sự rụng trứng xảy ra từ 14 ngày trước khi thời kỳ
kinh nguyệt bắt đầu, cho nên việc các trứng đã thụ tinh rơi ra ngoài sẽ diễn ra
trước thời điểm hoàn thành cá thể hoá. Vậy thật ra, chúng ta có thể nói các trứng
đã thụ tinh nhưng bị tống ra ngoài đó đã
là những con người mang hồn thiêng bất tử và là một sinh mạng cá thể được hay
không? Há đó lại chẳng phải là một sự phung phí vô lý sinh mạng con người hay
sao?
Ngày nay, một vài nhà thần học lỗi lạc và danh tiếng của
Ki-tô Giáo, lên tiếng ủng hộ lối giải thích rất lô-gic và có sức thuyết phục của
thuyết nhân hoá tiệm tiến, theo đó, sinh mạng con người bắt đầu vào khoảng từ
14 đến 21 ngày sau khi trứng thụ tinh, lúc mà sự phân đôi các tế bào không thể
diễn ra nữa, và do đó, cá thể tính của mầm phôi đang tăng trưởng được bảo đảm.[24]
Quan điểm này chỉ là phản ảnh của định nghĩa cổ điển về nhân vị mà Boethius
đã đưa ra: một nhân
vị là “một bản thể cá biệt mang bản chất có
lý tính”. Nói cách khác, không có một nhân vị nào được coi là hiện hữu
trước khi có một bản thể cá biệt. Như thế, trong hai hoặc ba tuần đầu tiên, sau
sự thụ tinh, vấn đề hàng đầu phải được bàn đến là vấn đề sinh thể đang phát triển
có mang bản chất có lý tính hay là không, hoặc đúng hơn, nó đã thực sự là một bản
thể đã được cá biệt hoá hay chưa.
Vào khoảng từ 14 - 21 ngày, sau khi trứng thụ tinh, có một
bản thể theo nghĩa là có sự thiết lập cá thể tính; bản thể ấy làm cho sinh thể
đang phát triển có khả năng lãnh nhận linh hồn của con người. Như thế là khác với
quan điểm của Thánh Thôma Aquinô (1225-1774): ngài không cho rằng thân thể tự
nhiên của con người có thể hoàn toàn đón nhận linh hồn con người trước khoảng
thời gian 40 ngày (đối với nam giới) và khoảng 90 ngày (đối với nữ giới) sau sự
thụ tinh.[25]
Quan điểm cho rằng sự sống cá thể con người bắt đầu vào
lúc cá thể tính được thiết lập, quan điểm đó được các thông tin khoa học hậu
thuẫn. Ngày nay, hầu như người ta đã thực sự xác định được rằng: cho đến sau
khi làm tổ, trứng đã thụ tinh chỉ được điều khiển bởi Ribonucleic Acid (RNA) của
mẹ, tức là bởi gien di truyền của người mẹ, là cái duy nhất có trong trứng trước
khi trứng được thụ tinh. Như thế, suốt thời gian đó, hình như tinh trùng không
đóng vai trò điều khiển hoạt động về sự sống của sinh thể đang phát triển (là
trứng đã thụ tinh). Chỉ sau khi quá trình làm tổ đã kết thúc, thì gien của sinh
thể mới thực sự hoạt động, với kết quả là trứng đã thụ tinh bắt đầu được điều
khiển bởi RNA của chính nó. Nếu thế, hình như sự chuyển đổi RNA của trứng đã thụ
tinh gần như trùng hợp với thời gian mà người ta nghĩ là cá thể tính được thiết
lập, tức là khoảng 14 đến 21 ngày sau khi thụ tinh. Vì vậy, ít là từ lúc đó,
theo quan điểm của các chuyên gia, thì chúng ta có thể chấp nhận rằng: bào thai
đã là một nhân vị, nghĩa là một bản thể cá biệt mang một bản chất có lý tính, bởi
vì hồn thiêng đó được chính Thiên Chúa phú ban.
III. KHI NÀO THÌ ĐƯỢC PHÉP
TƯỚC ĐOẠT MẠNG SỐNG CON NGƯỜI?
Như
chúng ta đã thảo luận với nhau ở phần trước và giả định cho rằng: sự hiện diện
của một bản thể cá biệt bắt đầu vào một lúc nào đó trong khoảng thời gian từ
14-21 ngày, sau khi trứng thụ tinh. Điều đó không có nghĩa rằng: trong khoảng
thời gian trước đó, người ta có thể tùy tiện ngăn cản hoặc xâm phạm sự sống của
sinh thể đang phát triển, là cái mang tiềm năng phát triển thành một con người
có bản vị riêng. Cũng vậy, không thể hiểu ngay lập tức rằng: khi mà mạng sống
con người đã hiện diện trong bào thai sau hai đến ba tuần phát triển đầu tiên,
thì hành động phá thai vẫn có thể được thực hiện với một sự tuyên bố là chính
đáng về luân lý. Nhiều khi, một cách ngẫu nhiên, sự sống của bào thai lâm vào
thế xung đột với sự sống của người mẹ hoặc với một vài giá trị tương xứng khác.
Trong trường hợp đó, cần tìm kiếm một số giải pháp luân lý để giải quyết cho những
tình trạng rất khó xử.
Trong các cuộc xung đột giữa sự sống với sự sống, hoặc giữa
sự sống với một giá trị tương xứng khác, tỷ dụ như việc thụ thai bên ngoài tử
cung, đôi khi có thể tìm các giải pháp bằng cách sử dụng phạm trù “kẻ xâm lược
bất chính”. Truyền thống Thần Học Luân Lý Công Giáo chủ trương rằng: với một kẻ
được xác nhận là kẻ xâm lược bất chính, cần phải dành cho y một sự đối-kháng ở
một mức độ cần thiết, thậm chí đến mức có thể dẫn đến cái chết, tất nhiên là
trong phạm vi nhằm bảo vệ chính mạng sống của một người nào đó hoặc nhằm bảo vệ
mạng sống của một kẻ vô tội. Lại nữa, nếu cần, có thể dùng đến bạo lực để giữ
gìn các giá trị khác được xem là cân xứng với chính sự sống. Hành động như vậy
có thể được thực hiện để chống lại những kẻ cố ý phá hoại, cũng như, những kẻ
không cố ý phá hoại. Điều đó có ý nói rằng: hành động đó có thể dùng để đối phó
với những kẻ gây tổn hại có ý thức, có tự do, và do đó, có trách nhiệm luân lý
về hành vi của mình (kẻ phá hoại cố ý), hoặc cũng có thể dùng để chống lại những
người rối loạn tâm thần, những người không còn khả năng làm chủ chính mình do
tác động của ma tuý, của thuốc hoặc rượu. Trong những trường hợp như vậy, có thể
nói những người này không có tội (xét về mặt chủ quan), tức là không chịu trách
nhiệm luân lý về hành vi của họ (kẻ phá hoại không cố ý).
Tuy vậy, ta cần nhận thức rõ, rằng giáo huấn của Giáo Hội
Công Giáo (GHCG) không thừa nhận việc áp dụng phạm trù “kẻ xâm lược bất chính”
(dù là cố ý hay không cố ý) vào trường hợp xung đột với mạng sống của thai nhi.
Tất nhiên, như thế không có nghĩa là giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo cấm mọi
việc phá thai. Khi nảy sinh các xung đột về sự sống giữa thai nhi và người mẹ,
hoặc trong những cảnh huống nhân sinh phức tạp, ở đó, cái tốt và cái xấu quyện
chặt lại với nhau, các nhà thần học Công Giáo có truyền thống sử dụng sự phân
biệt giữa những hậu quả trực tiếp và những hậu quả gián tiếp của một hành vi có
suy tính. Dùng sự phân biệt đó, Giáo Hội Công Giáo duy trì lập trường, coi việc
trực tiếp phá thai luôn luôn là điều xấu và vô luân, đang khi việc gián tiếp
phá thai có thể coi là được phép nếu có lý do đầy đủ. Để giúp cho chúng ta hiểu
rõ, sự khác biệt giữa phá thai trực tiếp và phá thai gián tiếp, cần phải được
giải thích rõ hơn về nguyên tắc hiệu quả song đôi, hay còn gọi là nguyên tắc
song hiệu, là nguyên tắc truyền thống trong thần học luân lý Công Giáo, cung cấp
nền tảng cho việc phân biệt cái được gọi là hiệu quả (hoặc kết quả) trực tiếp với
cái được gọi là hiệu quả gián tiếp về các hành vi của chúng ta.[26]
NGUYÊN
TẮC HỆ QUẢ SONG ĐÔI
Nguyên
tắc hiệu quả song đôi (hay còn được gọi là nguyên tắc song hiệu) được áp dụng,
khi chúng ta phải đương đầu với một hành vi, được coi là đồng thời có hai hiệu
quả. Mà một trong hai hiệu quả ấy, được coi là tốt và là điều chúng ta thật
lòng mong muốn và chủ tâm hoàn thành, đang khi hậu quả kia là hậu quả xấu,
không phải là điều chúng ta mong muốn hay có ý đạt đến, nhưng chỉ là điều đành
phải chấp nhận thôi. Điều xấu ấy hoặc là hiệu quả không hay ấy, trong thực tế,
là điều chúng ta muốn nó đừng xảy ra, trừ phi không còn cách nào khác.
Vấn đề luân lý mà nguyên tắc hiệu quả song đôi nhằm giúp
giải quyết: là có được phép thực hiện hay không, một hành vi đã được suy nghĩ kỹ
và đã được dự đoán, một cách rõ ràng, rằng sẽ gây ra một số hậu quả xấu không
thể tránh né được. Nguyên tắc hiệu quả song đôi đưa ra những chỉ dẫn như sau:
hành động được đề nghị, có thể được thực hiện với 4 điều kiện sau đây:
1. Hành động được đề nghị (X), tự nó, không phải là xấu; nó phải là hành vi tốt hoặc trung tính về phương diện luân lý;
2. Động lực hoặc ý hướng dẫn đến việc thực hiện hành vi được đề nghị phải là việc đạt được hiệu quả tốt; hậu quả xấu không được nhắm đạt tới, mà chỉ là điều đành phải chấp nhận;
3. Hiệu quả tốt nhắm đạt được (A) không phải là kết quả của hậu quả xấu; nói cách khác, hậu quả xấu không phải là phương tiện hoặc nguyên nhân của hiệu quả tốt; hiệu quả tốt phải thực sự do hành động đầu tiên được đề nghị (X) gây ra;
4. Trước tiên, phải có lý do đầy đủ hoặc cân xứng để thực hiện hành động được đề nghị (X), và do đó, cho phép hậu quả xấu xảy ra.
Sau
cùng, cần ghi nhận rằng hiệu quả mong ước (A) được coi là hiệu quả trực tiếp,
còn hậu quả đành chấp nhận (B) là hậu quả gián tiếp.
Để thấy nguyên tắc hiệu quả song đôi đã được áp dụng
trong quá khứ như thế nào, chúng ta có thể dùng một ví dụ: liên quan đến vấn đề
luân lý, trong việc kiểm soát quân sự hợp pháp vào thời chiến tranh, khi hành động
tấn công được đề nghị là hành động chắc chắn sẽ gây ra cái chết của rất nhiều
người dân thường. Câu hỏi trước tiên cần phải được nêu lên, là có thể cho phép
về mặt luân lý, tỷ dụ, ném bom một nhà máy chế tạo vũ khí rất nguy hiểm, có khả
năng chế tạo vũ khí nguyên tử và hạt nhân, nhưng lại nằm ở trung tâm một đô thị
đông dân cư. Điều không thể tránh khỏi là trái bom ném xuống nhà máy đó sẽ gây
ra cái chết cho biết bao dân lành, mà số đông trong họ (đặc biệt là trẻ em và
người già) không hề làm gì cho quân đội, cũng không thuộc số những người bảo vệ
nhà máy. Về phương diện luân lý, một kế hoạch ném bom như thế có thể được phép
không?
Câu
trả lời về mặt luân lý sẽ là đồng ý, nếu như việc ấy thỏa mãn 4 điều kiện của
nguyên tắc hiệu quả song đôi:
1. Hành động ném bom (X), tự nó, không bị coi như luôn luôn hoặc tất nhiên là xấu;
2. Ý định ở phía sau hành động ném bom phải là phá hủy hoặc là hạn chế khả năng chế tạo vũ khí của nhà máy; đó là hiệu quả tốt được dự đoán trước (A); hậu quả xấu (B) (là cái chết của dân chúng) không phải là điều mong ước hoặc cố ý làm;
3. Cả việc phá hủy hoặc làm mất khả năng phòng thủ của nhà máy lẫn sự chết chóc của đám dân lành đều do việc ném bom; sự chết chóc của dân lành không phải là cái gây ra sự ngưng hoạt động của nhà máy đó;
4. Thừa nhận rằng những người lên kế hoạch ném bom ấy là những người đang tiến hành một cuộc chiến chính nghĩa, theo đuổi một mục đích đúng đắn và chính đáng; thêm nữa, hệ thống phòng thủ của nhà máy, vì tính cách hữu hiệu của nó, là một mục tiêu quân sự không thể tấn công bằng cách thức nào khác (ví dụ phá hủy từ bên trong), đó là lý do đủ để lên kế hoặc oanh kích, dù biết rằng sẽ xảy ra sự hủy diệt mạng sống dân lành.
Tuy
nhiên, một điểm cần phải cân nhắc là lợi ích của việc ném bom phá hủy nhà máy
phải trội hơn sự thiệt hại về nhân mạng các thường dân vô tội.
Sự phá hủy nhà máy được gọi là hiệu quả trực tiếp và có dụng
tâm của hành vi ném bom, trong khi đó, sự chết chóc của dân cư quanh vùng được
coi như là hậu quả gián tiếp, đành phải chấp nhận. Nói cách khác, dân cư trong
vùng bị hủy diệt một cách gián tiếp. Như chúng ta đã đề cập từ đầu trong cuộc
thảo luận, truyền thống luân lý của GHCG chỉ nhấn mạnh rằng: mạng sống của người
vô tội không thể bị tước đoạt một cách trực tiếp; và trong khi không thể bị đàn
áp trực tiếp, mạng sống người vô tội lại vẫn có thể bị tước đoạt cách gián tiếp,
nếu thực sự có lý do đầy đủ hoặc cân xứng để làm điều đó.
Trong những lần tới, tôi sẽ trình bày với quý vị độc giả
các phần còn lại, liên quan đến chủ đề PHÁ THAI. Kính mời quý vị đón đọc.
Lm Trần Mạnh Hùng, STD.
Giáo
sư thần học luân lý tại Đại học Công giáo – The University of Notre Dame
Australia.
[1]
. The fetus has or does not have a right to life? Xem bài viết của Rosamond
Rhodes, “Abortion and Assent,” in Cambridge
Quarterly of Healthcare Ethics (1999): 416-427.
[2]
. Xem U.S. Catholic Conference, “Statement on Captital Punishment,” Origin 10 (1980): 373-377; The “Good
Friday Appeal to the End the Death Penalty” issued by the Administrative Board
of the U.S. Catholic Conference on April 2, 1999; Also John Paul II's homily
January 27, 1999, in St. Louis, MO; Evangelium
Vitae, nos. 53-57.
[3] . Xem Francis X. Rocca, “Đức Giáo Hoàng Francis kêu gọi bãi bỏ án tử hình và tù chung thân,” Catholic News Service. Được đăng vào ngày 23 Tháng 10 năm 2014. http://www.catholicnews.com/data/stories/cns/1404377.htm (truy cập 28 tháng 10 năm 2014).
[4] . Để biết thêm chi tiết, xin mời quý vị tìm hiểu bài viết của Linh mục Trần Mạnh Hùng, “Án tử hình và sự thay đổi về lập trường của Giáo hội Công giáo.” Đăng tại trang web của Thư Viện HVCGVN, Ngày 27 tháng 10 năm 2023: https://www.hvcgthuvien.edu.vn/2023/10/an-tu-hinh-va-su-thay-doi-ve-lap-truong-cua-giao-hoi-cong-giao.html (Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2026).
[5]
. Xem Nội dung mới của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo về án tử hình: “Án tử
hình là điều không thể chấp nhận” https://tgpsaigon.net/bai-viet/noi-dung-moi-cua-sach-giao-ly-hoi-thanh-cong-giao-ve-an-tu-hinh-an-tu-hinh-la-dieu-khong-the-chap-nhan-45206 (Truy cập ngày 19/10/2023).
[6]
. Hung Manh Tran, C.Ss.R., Euthanasia: Is It a Matter of Free Choice?
(Perth: Notre Dame Catholic University, 1997).
[7]
. Tỷ dụ như trong trường hợp chiến tranh diễn ra, người thường dân vô tội bị
bom đạn vô tình giết hại.
[8]
. Ta cần phải phân tích sự khác biệt giữa một hành vi thể lý và hành vi luân lý.
Thực vậy, giữa hành động giết người (được xem là hành vi thể lý), và việc
ám sát (hành vi luân lý), nó khác nhau xét về mặt luân lý. Việc giết người hay
một sinh mạng, nhiều khi được coi là hợp pháp-lý, tỷ dụ như là để tự vệ bản
thân, khi bị đối thủ tấn công có viễn tượng nguy hiểm đến tính mạng, tôi được
phép chống trả, hay việc xử bắn một tội nhân, việc giết lẫn nhau trong một cuộc
chiến chính nghĩa. Ngược lại, hành động ám sát, được coi là phi luân, vì tước
đoạt một mạng sống con người, khi không có lý chính đáng. Cho nên không hẳn bất
cứ hành vi giết người (hành vi thể lý) nào cũng bị coi như là vô luân (hành vi
luân lý) và đều bị lên án.
[9]
. Xem Norman
Ford, S.D.B. “We Don't Have to Clone,” The
TABLET 9 tháng 12 năm 2000, trang
1672. Tiến sĩ thần học gia Ford cho rằng: hiện nay việc tranh luận về khởi đầu
sự sống con người vẫn còn nhiều khúc mắc, ngay cả về phía Giáo Hội Công Giáo La
Mã cũng chưa thể khẳng định một cách tuyệt đối và chính xác, xét về mặt lý thuyết
và trên quan điểm thần học, dẫu vậy, tiến sĩ
Ford vẫn chấp nhận ý kiến cho rằng: có những lý do cho thấy là “con người”
đã có thể hiện diện đầy đủ ngay từ giây phút trứng vừa mới thụ tinh, do đó, cần
phải bảo vệ phôi.
[10]
. Sự sống con người ở đây, mang theo khái niệm là ngay từ giây phút trứng vừa mới
thụ tinh, thì đã có sự hiện diện của một cá thể riêng biệt.
[11]
. Xem Huấn Thị Donum Vitae (Quà tặng
sự sống) của Thánh Bộ Tín Lý và Đức Tin ban hành ngày 22/2/1987. AAS 80 (1988): 70-102. Cũng như Thư luân lưu của
ĐGH Gioan Phaolô II gởi cho tất cả các giám mục trên toàn thế giới về vấn đề
phá thai và chết êm dịu. John Paul II, “Letter on Combatting Abortion and
Euthanasia,” ORIGINS 21 (1991), tr 136.
[12]
. Charles E. Curran, New Perspectives in
Moral Theology. (Notre Dame: Fides Publishers, Inc. 1974), trang 173.
[13]
. Declaration on Procured Abortion.
Ban hành do Thánh Bộ Tín Lý và Đức Tin. Được đăng tải trong nhật báo
“L'Osservatore Romano,” ngày 29 tháng 5, 1974;
AAS 66 (1974): 730-747.
[14] . Xem bài viết của Trần Mạnh Hùng C.Ss.R., Tế Bào Gốc và Ứng Dụng Của Nó được đăng trên báo Nguyệt San Dân Chúa Úc Châu, số 88 - tháng 01, năm 2002, trang 72-76. Cũng như đã được phổ biến trên báo Nguyệt San Dân Chúa Mỹ Châu, số 301 - tháng 3, năm 2002, trang 18-19 và số báo tiếp theo, số 302 - tháng 4, năm 2002, trang 17-19.
[15]
. Joseph F. Donceel, S.J., “Why Is Abortion Wrong?,” America,
133 (1975): 65-67.
[16]
. Xem bài viết của Đức Giám Mục Anh Giáo, Richard Harries, “Why We Need to
Clone,” THE TABLET 16 Tháng 12 năm 2000, trang 1705.
[17]
. Hình chất thuyết: Hylomorphism.
[18]
. Joseph F. Donceel, S.J., “Immediate
Animation,” in Theological Studies 31
(1970): 82 - 83; Đặc biệt là bài viết của
Đức Giám Mục Anh Giáo, Richard Harries, “Why We Need to Clone,” THE TABLET 16 Tháng 12 năm 2000, trang 1705.
[19]
. DNA: chữ viết tắt của Deoxyribonucleic Acid -
the genetic material found in all living things; contains the inherited
characteristics of every living organism.
Tạm dịch là “cấu tử cơ bản của gien”.
RNA:
chữ viết tắt của Ribonucleic Acid - A
molecule that carries the genetic message from DNA to a cell. Tạm dịch
là “phân tử di truyền tính”. Vì sau khi tra cứu ở Từ Điển Y Học Anh Việt do
B.S. Bùi Khánh Thuần soạn thảo (tái bản năm 1996), tôi vẫn không tìm được sự giải
thích của hai từ này bằng tiếng Việt. Cho nên, tôi mạn phép lược dịch như trên,
theo ý của tiếng Anh.
[20]
. Tuy nhiên luận điệu này cũng đã được thần học gia Thomas Shannon phản bác bằng
một luận điệu khá lý thú và vững chắc. Muốn biết thêm chi tiết xin mời quí vị
tìm đọc bài viết của Thomas A. Shannon, “Delayed Hominization: A Response to
Mark Johnson,” Theological Studies
57 (1996): 731-734.
[21]
. Để thấu triệt vấn đề và cách thức hiện nay mà các chuyên gia, trong đó bao gồm
các nhà triết gia, thần học gia, đang tranh cãi về vấn đề này, xin mời quí vị
xem qua các bài khảo cứu sau đây: Lisa
Sowle Cahill, “The Embryo and the Fetus: New Moral Contexts,” Theological Studies 54 (1993): 124-142;
Richard A. McCormick, S.J., “Who or What is the Pre-embryo?” trong tác phẩm Corrective Vision. (Kansas City, MO:
Sheed & Ward, 1994), trang 176-188;
Maureen Junker-Kenny, “The Moral
Status of the Embryo,” Concilium 2
(1998): 43-53; Klaus Steigleder, “The Moral Status of Human Embryos and
Fetues,” International Journal of
Bioethics 10 (1999): 11-15; W. Jerome Bracken, “Is The Early Embryo a Person?” Linacre Quarterly 68 (February 2001):
49-70. Đặc biệt là bài viết gần đây nhất của cha Norman Ford, S.D.B., “The
Human Embryo as Person in Catholic Teaching,”The National Catholic Bioethics Quarterly (Summer 2001): 155-160.
[22]
. Để nắm vững cách lý luận trên, xin mời qúi vị tìm đọc tác phẩm When Did I Begin? (Great Britain: Cambridge University Press,
1988) của triết gia kiêm thần học gia,
linh mục Norman Ford, dòng Donbosco. Ngài đã trở nên danh tiếng nhờ tác phẩm
này. Ngài còn là giám đốc của trung tâm
Caroline Chrisholm, Melbourne, lo về mặt Đạo Đức Sinh Học và Bảo Vệ Sức Khỏe.
[23]
. Bernard Haring, C.Ss.R., “New Dimensions of Responsible Parenthood,” Theological Studies 37 (1976): 120 -
132.
[24]
. Bernard Haring, C.Ss.R., “New Dimensions of Responsible Parenthood,” Theological Studies 37 (1976): 126 -
127; Paul Ramsey, “The Morality of
Abortion,” in Life or Death: Ethics and Options,
edited by Daniel Labby (Seattle: University Washingtion Press, 1968),
pp. 64 - 69; Charles E. Curran, Transition
and Tradition in Moral Theology. (Notre Dame: University of Notre Dame
Press, 1979), p. 212; Lập trường này
cũng được ủng hộ bởi thần học gia luân lý danh tiếng dòng Tên - người Mỹ - cha
Richard A. McCormick, S.J., “Notes on Moral Theology,” Theological
Studies, 39 (1978): 127-128. Đặc biệt hơn cả là thần học gia Norman Ford,
dòng Donbosco, người Úc, với tác phẩm khá lừng danh và cũng là đề tài cho nhiều
cuộc thảo luận trên thế giới. Xem Norman Ford, S.D.B. When Did
I Begin? (Great Britain: Cambridge University Press, 1988).
[25]
. Xem “The Sanctity of the Embryo: A Submission to the House of Lords,” đăng tải
ở tuần báo THE TABLET , 23 tháng 6 năm 2001, trang 926.


