Thư viện Học viện Công giáo Việt Nam: Thần học

Bài viết về "Thần học"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thần học. Hiển thị tất cả bài đăng


Piô Phan Văn Tình STL-K3

Dựa vào dữ liệu Kinh Thánh (x. 2Cr 13,13; 1Cr 12,4-6) và cấu trúc Kinh Tin Kính, Thần học cổ điển thường quy công cuộc tạo dựng cho Chúa Cha, công cuộc cứu độ cho Chúa Con, công cuộc thánh hóa cho Chúa Thánh Thần. Như vậy, Chúa Thánh Thần xem ra chẳng có vai trò nào trong công cuộc tạo dựng. Thế nhưng, công cuộc tạo dựng được thực hiện nhờ Lời và Thần Khí. Theo đó, Thần Khí là nguyên lý sự sống đưa vũ trụ ra khỏi tình trạng trống rỗng; can thiệp trong mầu nhiệm tạo dựng con người và không ngừng bảo tồn sự sống trên trái đất.

1. Trong trình thuật tạo dựng, sự hiện diện của Thần Khí Thiên Chúa (gió) chuyển vận trên mặt nước, lúc đất còn vô thể mung lung và tối tăm còn đang bao trùm mặt vực thẳm (x. St 1,2), là ám chỉ một mãnh lực sinh động của thần linh. “Gió” được xem như một thực tại năng động, được liên kết với sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa. Điều này cho thấy Thần Khí của Thiên Chúa đã đóng vai trò của một quyền lực ban sự sống; cùng với “Lời”, Thần Khí ban cho các hữu thể sự sống và đưa chúng vào trật tự[1]. Thiên Chúa truyền lệnh “là hết thảy được tạo thành” (Tv 148, 5), và “hơi thở” của Ngài (x. Tv 33,6) làm cho muôn loài muôn vật xuất hiện và bắt đầu chuyển vần đúng với chức năng của mình. Hơn nữa, “ruah-hơi thở” còn là “không gian” mà Thiên Chúa có (x. St 6,3), là “môi trường hô hấp”[2] và vạn vật tham dự vào “không gian sinh khí” đó để sống, tăng trưởng, điểm tô và thống trị mặt đất. “Sinh khí của Ngài Ngài gửi tới, là chúng được dựng nên, và Ngài đổi mới mặt đất này” (Tv 104,3). Như vậy, từ hư vô, Thần Khí Thiên Chúa đã tạo dựng và sự sống tràn lan trên mặt đất. Công trình tạo dựng của Thiên Chúa đạt tới tuyệt đỉnh khi Thiên Chúa làm cho xuất hiện con người giống hình ảnh Ngài (x. St 1,27).

2. Cách thức diễn thuật việc con người được tạo dựng (nơi St 2, 4b-25) cho thấy việc tạo dựng con người có liên hệ với Thần Khí của Thiên Chúa. Sau khi lấy bùn đất mà tạo dựng nên con người, Thiên Chúa đã thở hơi sự sống vào mũi con người; và con người trở thành một hữu thể sống (x. St 2,7). Sách Thánh cho chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa, bằng hởi thở thần linh của mình, đã can thiệp vào việc dựng nên con người thành một sinh linh. Nơi con người cũng có “hơi thở của sự sống”, một hơi thở phát xuất từ “việc thở hơi” của chính Thiên Chúa. Họ cũng có một “thần khí” giống như Thần Khí của Thiên Chúa[3]. Tác giả sách Gióp phải thốt lên: “sinh khí của Thiên Chúa làm ra tôi, hơi thở của Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi được sống” (G 33,4). Vì hơi thở chính là đặc tính của Thiên Chúa (x. Mt 10,19), và cũng là một biểu tượng khả giác về sự hiện diện và quyền năng của Ngài (x. Ga 6,63), cho nên con người không thể làm chủ được hơi thở của mình (x. Tv 103, 29-30). Hơi thở của Ngài là “nguồn sự sống” của mọi loài. Chúng sống được là nhờ sinh khí của Ngài (x. Hc 3, 9-21). Đặc tính này diễn tả cái mà nhờ đó thế giới trở nên sinh động, có sự sống và cũng tạo ra những khả năng nơi con người khả dĩ giúp họ sống đúng với phẩm giá của mình. Con người biết ứng đáp trước ân huệ của Thiên Chúa và đón nhận nhau qua định chế hôn nhân: “một xương một thịt” (St 2,24), một sự sống nhờ “sinh khí” của Thiên Chúa.

3. Đối với Kinh Thánh, thế giới do hơi thở Thiên Chúa tạo thành là một thế giới có sự sống (x. Rm 8,19-22). Thần Khí nội tại tiềm tàng sâu thẳm trong thụ tạo, nên không hề xa lạ với thụ tạo (x. St 2,7; G 33,4). Thiếu hơi thở, con người không thể “lưu lại” trong Sự Thật và cuộc sống không còn sinh khí. Thế nên, việc hiện hữu của các thụ tạo lệ thuộc vào tác động thần linh Thiên Chúa, Đấng chẳng những tạo dựng mà còn bảo tồn và tiếp tục canh tân bộ mặt trái đất[4]. Ngài bảo tồn sự sống con người và vạn vật bằng cách không ngừng chia sẻ cho chúng chính Hơi Thở của Ngài, tới mức “Chúa lấy lại sinh khí thì muôn loài tắt thở” (Tv 103, 29-30; G 34,14-15).[5] Hơn nữa, trong biến cố Vượt Qua, Thần Khí còn làm cho Đức Ki-tô chỗi dậy sống sự sống viên mãn trong sự sinh hạ vĩnh hằng (x. Cv 13,33). Và bằng cách đó, Thiên Chúa đã tái tạo vũ trụ vạn vật[6] (x. Rm 4, 17. 25), và cho chúng hiện hữu (x. Cl 1,15-17), trong “Thần Khí tác sinh” (Rm 8,2), “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết…cũng sẽ dùng Thần Khí của Người ngự trong anh em, mà làm cho thân xác anh em được sự sống mới” (Rm 8,11).

 

 

THƯ MỤC

Barbour, Ian. Nature, Human Nature, and God. Minneapolis: Fortress, 2002.

Bùi Văn Đọc và một số Linh Mục khác. Chúa Thánh Thần, Đấng Ban Sự Sống. NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 1997.

Cantalamessa, Raniero. Chúa Thánh Thần: Ánh sáng và Sự sống của Giáo Hội. Nguyễn Văn Hương chuyển ngữ. Hà Nội: Tôn Giáo, 2017.

Congar, Yves. The Word and the Spirit. California: Harper & Row, 1986.

Edwards, Denis. Breath of Life: A Theology of the Creator Spirit. Maryknoll, N.Y: Orbis, 2004.

Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo. Bản dịch Việt ngữ của HĐGMVN. Hà Nội: Tôn Giáo, 2011.

Gioan Phaolô II. Dominum et Vivificantem. Ban hành ngày 18 tháng 05 năm 1986.

Gunton, Colin. The Spirit Moved over the Face of the Waters: The Holy Spirit and the Created Order. Quoted in International Journal of Systematic Theology. Vol. 4, no.2. July 2002.

Pinnock, Clark H. The Role of the Spirit in Creation. Quoted in The Asbury Theological Journal. Vol. 52 no.1. Spring 1997.

Studebaker, Steven M. The Spirit in Creation: A Unified Theology of Grace and Creation Care. Quoted in Zygon, Vol. 43, no. 4. December 2008.



[1] X. Gordon J. Wenham, Genesis 1-15, Word Biblical Commentary, 1 (Waco, TX: Word Books, 1987), tr.

[2] X. Px. Phó Đức Giang, OFM., Cảnh Vực Môi Sinh Giữa Lòng Ba Ngôi, tr. 30-32.

[3] Khi bàn về vai trò của Chúa Thánh Thần trong công trình tạo dựng, các tác giả Barbour, Edwards, và McFague đã đề cập đến sự sống được trao ban cho con người nói riêng và muôn loài nói chung như “hơi thở” thần linh, các thuật ngữ được trưng dụng khả dĩ diễn tả hoạt động của Ngài: hơi thở, việc thở hơi, thần khí, sinh khí, sự hô hấp. X. Ian Barbour, Nature, Human Nature, and God, (Minneapolis: Fortress, 2002), tr. 125; x. Denis Edwards, Breath of Life: A Theology of the Creator Spirit, (Maryknoll, N.Y: Orbis, 2004), tr. 33-49; x. Sallie McFague, The Body of God: An Ecological Theology, (Minneapolis: Fortress, 1993), tr. 143-44.

[4] X. Steven M. Studebaker, The Spirit in Creation: A Unified Theology of Grace and Creation Care, quoted in Zygon, vol. 43, no. 4 (December 2008), tr. 947; x. Clark H. Pinnock, The Role of the Spirit in Creation, tr. 47-53, quoted in The Asbury Theological Journal (Spring 1997), vol. 52 no.1.

[5] X. Colin Gunton, The Spirit Moved over the Face of the Waters: The Holy Spirit and the Created Order, tr. 200-204, quoted in International Journal of Systematic Theology, vol. 4, no.2, (July 2002).

[6] Ibid., tr. 197-199.



Nguyên tác: Flowers in the Desert : A Spirituality of the Bible.

Tác giả: Demetrius Dumm, OSB.

Chuyển ngữ: Piô Phan Văn Tình, OMI.

Thông tin xuất bản: Pennsylvania: Saint Vincent Archabbey, 2001.


Sau khi nói về các đặc sủng của Thần Khí và đã lưu ý rằng các đặc sủng không thể được nhận biết hay triển nở nếu không có môi trường thích hợp, vì thế thánh Phaolô đã nói tới một ân huệ cao cả và vượt trổi: “Tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả” (1Cr12,31). “Con đường” vượt trổi này hướng về ân huệ đặc biệt của đức mến: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng” (1Cr13,1). Tất cả mọi nỗ lực con người đều là bịa đặt hoặc giả tạo bề ngoài nếu như họ không cho thấy được lòng yêu mến. Điều này cũng tương tự như ý nghĩa mà thánh Phaolô muốn quảng diễn khi nói rằng những công việc tốt chẳng có ích gì nếu không có đức tin (Rm3,28). Đức tin khám phá sự thiện và tình yêu của Thiên Chúa và do đó có khả năng thực sự trở thành một bản chất tốt và yêu vô vị lợi. Bằng cách này, những việc tốt sẽ là một sự hướng dẫn và dấu chỉ của đức tin và đức mến, nhưng đó là đức tin và đức mến khả dĩ làm nên một con người độc nhất trước mặt Thiên Chúa và được thừa hưởng vương quốc của Người. Trong thực tế, những việc tốt mà không có đức tin và đức mến thì có thể là nguồn gây ra sự kiêu ngạo và đưa đến phạm tội. Cho nên, không lạ gì khi thánh Phaolô gọi là: “Con đường vượt trổi hơn cả” (1Cr12,31).

Trong nội dung này, điều thánh Phaolô muốn diễn tả là đức mến đã vượt xa những gì thường được gợi ý bởi chính ngôn từ đó trong văn hóa bình dân của chúng ta. Đối với thánh Phaolô, đức mến thiết yếu là vô vị lợi. Nó không phải là một ước muốn chiếm hữu người khác cũng không đặt trên nền tảng sự hấp dẫn của họ. Đó là một sự diễn tả sự thiện và chỉ tìm lợi ích của người khác, thậm chí nó chứa đựng cả ý nghĩa “đánh mất” chính mình (hy sinh). Tình yêu lệch lạc muốn người khác lệ thuộc, còn tình yêu chân thật muốn người khác được tự do, ngay cả khi tự do ấy có thể khiến họ xa mình. Điều làm cho tình yêu chân thật khả thể không phải là sự hấp dẫn nào khác ngoài chính sự thiện, một sự thiện khám phá nhờ được yêu, được mọi người và Thiên Chúa yêu trọn vẹn. Ai biết mở lòng mình ra cho tình yêu và sự thiện thì trở thành một người đang yêu thực sự, để rồi tự nguyện chọn lựa vượt qua tình yêu ấy hầu đến với mọi người. Muốn trở thành người đáng yêu thì phải trở thành người được yêu trước.

Bởi thế, khả năng yêu mến thật sự là ân huệ quan trọng nhất trong tất cả. Khi đã có nó thì những đặc sủng khác được nhìn thấy bằng một con mắt sáng ngời và đạt được một kết quả hoàn hảo. Khi vắng bóng đức mến, thì mọi đặc sủng khác được coi là ích kỷ và sẽ phủ nhận, đồng thời khước từ hoặc chỉ đi tìm tư lợi. Thánh Phaolô coi đức mến chân thật như là môi trường đặc biệt, ở đó các đặc sủng riêng có thể được tìm thấy và có khả năng sinh sôi nảy nở có thể đạt tới tầm vóc viên mãn. Đó là trái tim và linh hồn của một cộng đoàn Kitô hữu đích thực. Thực tế, đó chính là sự hiện diện của Thần Khí trong cộng đoàn ấy. Vì Thần Khí là thần khí của tình yêu, có khả năng làm cho mọi người trở nên đáng yêu và thật sự vô vị lợi như Chúa Kitô.

Thánh Phaolô tiếp tục liệt kê những đặc tính của ân huệ đức mến đặc biệt này. Cần chú ý hai điều, cách riêng về những giá trị của đức mến chân thật: thứ nhất, chúng không nhất thiết phải lãng mạn hoặc không nhất thiết là mối quan tâm chính trong cảm xúc, và thứ hai là tất cả phải chứa đựng tự do và sự tin tưởng nơi người đang yêu, điều này có nghĩa là chính người ấy đã được yêu. Tất cả những đường lối sau đây đều được rút ra từ chương 13 trong thư thứ nhất của thánh Phaolô gửi cho các tín hữu Côrintô.

“Đức mến thì nhẫn nhục” (c.4). Theo nguyên ngữ đức mến là “đại lượng”, là đón nhận người khác và những khác biệt của họ, đó là sự hiếu khách và hiệp nhất của toàn thể Giáo Hội, không cảm thấy sợ hãi hoặc làm giảm giá trị những đặc sủng mới lạ hay phi thường.

“Đức mến thì hiền hậu” (c.4). Theo nguyên ngữ là “hữu ích” nghĩa là giúp ích và có tính xây dựng, nhìn đời sống một cách tích cực và khao khát tìm kiếm điều thiện, không phải là sự ăn bám hoặc khô chồi, mà chăm sóc người khác và làm cho họ mạnh mẽ hơn.

“Đức mến không ghen tương” (c.4). Đức mến chân thật không làm hao mòn hay hư hỏng những đặc sủng của người khác bằng cách muốn họ không có được những đặc sủng ấy hoặc bằng cách làm cho họ mặc cảm tội lỗi về vận mệnh tốt đẹp của họ. Đúng hơn, thưởng thức cách đúng đắn những đặc sủng của họ. Điều này khả thi bởi vì người đang yêu hiểu rằng mình cũng đang có những đặc sủng và do đó tự nguyện thưởng thức những phúc lành của người khác. Tuy nhiên, cần biết đích xác rằng tất cả lợi ích có được đều do các đặc sủng được tôn trọng còn tất cả đau khổ đều do đã khước từ các đặc sủng.

“Đức mến không vênh vang” (c.4). Gốc tiếng Hy Lạp gợi ý một sự nỗ lực diễn tả sự quan tâm đối với bản thân bằng những loại khác nhau về sự tự phát triển. Điều này xuất phát từ sự bất an hoặc thiếu tin tưởng. Bởi thế, một người cảm thấy cần mời mọc sự quan tâm chú ý đối với chính mình vì sợ rằng mình hoàn toàn bị bỏ rơi và có cảm giác như không hiện hữu. Đức mến chân thật thì bình tĩnh, tin tưởng và tự chủ, bao gồm cả kinh nghiệm tự do của việc được yêu mến.

“Đức mến không tự đắc” (c.4). Nguyên ngữ, đức mến thì không “dương dương tự đắc” hoặc ngạo mạn. Đây là một cách khác của việc giải quyết sự bất an. Thay vì tự phát ồn ào, thì người ta phải viện đến một sự độc lập giả tạo và cao ngạo. Đó là một trò lừa bịp liều lĩnh vì nó đang cố bỏ qua những gì là cần thiết nhất. Hơn nữa, đức mến chân thật bao gồm một cảm nhận về sự tin tưởng, một sự tự do nội tại.

“Đức mến thì không bất lịch sự” (c.4). Đức mến chân thật thì rất nhạy bén về những hình thức khả dĩ làm cho mọi người cảm thấy thoải mái và an tâm. Nó xa tránh hành xử không xứng hợp hay bất lịch sự, không phải vì hình thức hay sự cứng nhắc nhưng vì hành xử như thế làm cho mọi người căng thẳng và tước đoạt mất bình an mà họ đáng được hưởng. Bởi đó, đức mến sẽ tôn trọng phép xã giao đúng đắn đơn giản vì đó là một cách cho thấy sự tôn trọng và quan tâm của người này đối với người khác. Hình thức ăn diện bên ngoài và ứng xử nhã nhặn là những cách quan trọng để nói với người khác rằng anh hay chị có giá trị và được tôn trọng.

“Đức mến không tìm tư lợi” (c.5). Bản văn gốc trình bày: “đức mến không tìm gì riêng tư”. Đức mến chân thật không quy về mình hay lợi ích cá nhân. Đó không phải là sự e dè và tự vệ. Đó là việc cảm thấy an tâm tự nhiên và vì vậy có khả năng tìm đến với người khác. Không quan tâm thái quá tới việc phạm lỗi, hiểu lầm hay có những vụng về…Đúng hơn, hành động một cách tự phát như Đavit đã nhảy nhót trước hòm bia, quảng đại, tự nguyện và tự nhiên.

“Đức mến thì không nóng giận” (c.5). Đây có thể là vén mở nhiều nhất trong tất cả những đặc tính của đức mến chân thật. Đừng quá nhạy cảm cũng đừng trừng phạt người khác bằng cách làm cho họ mặc cảm đáng trách để rồi gây ra những tổn thương. Luôn có một cám dỗ lớn, đặc biệt nếu ai đó sống với những người dễ cảm, thì việc “trừng phạt” họ gây ra thương tổn, ngay cả khi rõ ràng vết thương là do vô tình. Những người như thế đi đâu cũng mang những “dấu ấn” nghĩa là “sự yếu đuối”, “cần đến sự quan tâm”, “có máu nghệ sĩ”. Đây là một thứ chẳng có chút tình thương để thi hành bởi nó khiến cho mọi người phải đề phòng và coi chừng, phá hủy sự tự nguyện và bình an. Cũng rất nguy hiểm bởi vì là khởi đầu cho sự ẩn náu thiếu xây dựng của tính chất tự quy ích kỷ. Khi một người nào đó khởi đầu khiển trách người khác và nuông chiều tính ích kỷ của mình thì người ấy đã lìa xa sự trưởng thành và hoán cải, người ấy khước từ lời mời gọi hành trình của Thiên Chúa.

“Đức mến không nuôi hận thù” (c.5). Liên hệ gần gủi với tình ích kỷ là khuynh hướng ấp ủ những vết thương cũ, có thật hoặc do tưởng tượng. Đức mến chân thật nhận thức rằng không ai có thể trải nghiệm đời sống mà không bị thương hoặc đôi khi bị trừng phạt. Nhưng nó không phóng đại và lệ thuộc vào những kinh nghiệm này, cũng không dùng chúng như những lý do để trốn tránh những quyết định hay những công việc khó khăn. Nói cách khác, không làm ra một hình tượng Saul, người đã mang điều dữ và đã thuộc về nó. Đúng hơn, như Đavit, đã để cho sự dữ qua đi, biết gắn bó với điều thiện trong đời sống, xa lánh sự bào chữa và biết nhận trách nhiệm, biết đếm phúc lành, cố gắng tha thứ và quên đi những nỗi đau trong đời sống. Một lần nữa, đức mến chân thật hàm chứa việc được yêu và được tự do, dùng tự do này để chọn lựa cách đúng đắn!

“Đức mến không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật” (c.6). Đức mến không vẽ ra sự thoải mái từ những bất hạnh của người khác bởi vì nó không nhìn người khác như những kình địch hay những đối thủ cạnh tranh. Ai thật sự yêu mến thì hoàn toàn an tâm, không coi may mắn tốt lành và thành đạt của người khác như là mối đe dọa. Đúng hơn, đó là một lý do để vui mừng và tạ ơn. Đức mến chân thật luôn lạc quan về cuộc đời qua những thăng trầm. Không hoang tưởng, cũng chẳng biết mưu đồ tính toán. Nó là hình ảnh Đavit trong sự tín thác vào thế giới của Thiên Chúa và mọi người của Thiên Chúa.

“Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (c.7). Đây là một kiểu dịch thật sự thoáng của một bản văn Hy Lạp khó. Người ta có thể tranh luận về các chi tiết nhưng ý nghĩa chung thì đã minh nhiên: Đức mến chân thật thắng vượt tất cả những thế lực tiêu cực và thiếu xây dựng trong đời sống con người. Nó vô cùng lạc quan bởi vì nó đã chạm tới tình yêu toàn năng của Thiên Chúa. Nó là một sức mạnh ẩn kín và kinh ngạc, có khả năng triển nở trong nghịch cảnh và mạnh mẽ nhất khi xem ra chẳng còn nơi nào cho đức tin, hy vọng và kiên trì. Loại đức mến này rời xa sự hấp dẫn lãng mạn vốn bị hủy hoại bởi sự bất toàn. Loại đức mến này chiến thắng tất cả bởi vì nó trao ban chứ hơn là đón nhận, bởi vì nó là bản chất của sự trao ban nguyên vẹn của Thiên Chúa.

Quyền năng quá hấp dẫn và tuyệt vời này của đức mến là kho tàng cao cả trong đời sống con người. Ai sở hữu nó thì giàu sang, ai thiếu vắng nó thì vô cùng nghèo nàn. Nó không thể bị mang đi hoặc bị cầm giữ, nó là ân huệ thuần khiết. Nhưng nó là một ân huệ được dành tặng cho tất cả mọi người. Muốn đón nhận nó, thì cần phải biết cởi mở trước ân huệ trong đời sống, cần phải tìm kiếm những đóa hoa và uống tất cả vẻ đẹp của chúng, cần biết đếm những phúc lành nhưng biết quên những nỗi đau. Sự sẵn sàng này đối với ân huệ trong đời sống sẽ trao ban sức mạnh và tự do để chọn lựa trở thành món quà cho người khác. Do đó, món quà được trao tặng là để trở thành quà tặng. Để trở thành một quà tặng không dễ chút nào, thật sự có thể rất đau đớn tuy nhiên đó là mục đích có giá trị duy nhất cho sự hiện hữu của con người và làm cho cộng đoàn hạnh phúc và bình an sâu xa.




Micae Hoàng Tâm STB-K1

                I.     Dẫn nhập

Biến cố phục sinh của Đức Kitô là chóp đỉnh của toàn bộ đức tin Công giáo. Biến cố này khiến cho người Kitô hữu hy vọng về cuộc sống trường sinh, hạnh phúc, viên mãn, và tròn đầy. Thật thế, người Kitô hữu không mong đợi những điều phi lý, ảo huyền, hay giả tưởng, nhưng là mong chờ các thực tại cánh chung. Các thực tại đó thôi thúc người Kitô hữu mong chờ đến mức cháy bỏng vào cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Tuy nhiên trước khi đến với cuộc sống vĩnh sinh, người Kitô hữu đang phải đối mặt với các sự kiện hiện tại, các chiều kích của hiện sinh. Niềm hy vọng vào thực tại mai sau đang vấp phải sự chống đối với thực tại cảm nghiệm. Tức là đau khổ, rên xiết, bất công, dập nát, đang giày vò người Kitô hữu ở đời này.[1] Tuy nhiên, sự chất vấn của các thực tại đời này không làm mất đi ý nghĩa về thực tại cánh chung, trái lại khiến cho các thực tại cánh chung đời sau lộ ra ở đời này. Bởi lẽ, Đức Kitô nhập thể đã đem vô hạn vào hữu hạn, đem siêu nhiên vào tự nhiên, đem thần linh vào phàm nhân. Hơn nữa sau biến cố Vượt Qua và phục sinh Đức Kitô đã đem vật chất lên trời cao. Từ nền tảng đó, người Kitô hữu xác tín về niềm hy vọng thân xác của mình sẽ sống lại và trở nên như thân xác của Đức Kitô phục sinh. Như vậy, bài viết sẽ khai triển ba nội dung liên quan đến ý nghĩa đời sống Kitô hữu dưới ánh sáng phục sinh của Đức Giêsu, dưới lăng kính của Cánh Chung Học. Đầu tiên, nói về sự sống tình yêu trong nước Thiên Chúa, là thực tại mà Đức Giêsu đã rao giảng để mọi người có thể chạm tới, hy vọng tới hầu đạt được ơn cứu độ. Thứ hai, nói về tình yêu là sự sống, sống là tình yêu, đời sống người Kitô hữu được bao bọc trọn vẹn bởi tình yêu của Thiên Chúa. Thứ ba, đích đến của con người là kết hiệp với Thiên Chúa, đây chính là ý nghĩa của Phục Sinh, phàm nhân được ở trong thế giới của thần linh, bởi lẽ “Thiên Chúa đã làm người để con người làm Chúa”.[2]

          II.    Sự Sống Tình Yêu Trong Nước Thiên Chúa

Khởi đi từ biến cố phục sinh của Đức Giêsu, người Kitô hữu quan niệm cánh chung không đơn giản là bàn luận về điểm kết thúc đời này là sự chết, mà đúng hơn là quan niệm về sự khởi đầu, là sự sống vĩnh cửu, hướng đến thực tại sau khi chết, là Nước Thiên Chúa. Nhưng Nước Thiên Chúa là thực tại “đã rồi” mà “vẫn chưa”. Nghĩa là Nước Thiên Chúa đã đến trong cuộc đời, nhưng vẫn chưa hoàn toàn được tỏ lộ. Từ đây người Kitô hữu suy tư và khảo sát chiều kích quan trọng của đời sống, đó là chiều kích về tương lai, chiều kích của hy vọng. Chiều kích đó được suy tư dựa trên tình yêu trong nước Thiên Chúa, và tình yêu đó bao bọc niềm tin Kitô hữu để có thể đạt tới điểm hoàn tất, đạt tới hạnh phúc viên mãn với Thiên Chúa chính là ở trong nước của Ngài. Điều này đã được khẳng định trong thư Hípri: “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Hr 11, 1). Như vậy, kinh nghiệm hy vọng trong đời sống của người Kitô hữu, được quy chiếu vào Đức Giêsu Kitô như là khuôn mẫu, chuẩn mực từ Thiên Chúa được ban cho tất cả nhân loại. Do đó, bất cứ ai muốn được trở nên như Đức Giêsu, được sống lại như Ngài, và được ở trong vương quốc của Thiên Chúa, thì phải dùng tình yêu để đáp lại tình yêu. Vì trong toàn bộ đời sống cũng như sứ vụ rao giảng Tin Mừng cứu độ, Đức Giêsu chỉ nhấn mạnh đến tình yêu. Nhờ tình yêu mới có niềm tin, có niềm tin mới được cứu và đạt được sự sống trong Vương Quốc Thiên Chúa. (x. Ga 13-19).

         III.   Tình Yêu là Sự Sống, Sự Sống là Tình Yêu

Thực tại được mong đợi nhất của người Kitô hữu là được ở trong Nước Thiên Chúa, là nơi mà vương quyền Tình yêu Thiên Chúa bao trùm và che chở. Tình yêu đó làm cho mọi hiện hữu trong vương quốc đạt được sự sống vĩnh cửu. Như thế, có thể nói tình yêu trong Nước Thiên Chúa là sự sống và sự sống là tình yêu. Nhưng tình yêu mang đến sự sống đó không phải là điều xa lạ với con người, vì tình yêu trường sinh đã đến với thế giới hiện tại. Tình yêu đó làm cho tâm hồn con người trở nên quảng đại, bao dung, và giải thoát con người khỏi mọi tình trạng tội lỗi, vong thân, tha hoá, thù hận, bóc lột, bất công, tù ngục, ích kỷ. Người Kitô hữu trong thế giới hiện tại được mời gọi khai mở tình yêu và đáp trả tình yêu bằng việc hoán cải từ bỏ nếp sống cũ, và hướng lòng về Thiên Chúa là nơi mà tình yêu không phân biệt, loại trừ, kỳ thị bất cứ ai. Và đó là kiểu mẫu, cách thức, thái độ sống mới, mời gọi mọi Kitô hữu đảm nhận và thực thi. Vì thế, Nước Thiên Chúa mang tình yêu phổ quát, siêu việt và bao trùm tất cả nhân loại. Tình yêu của Thiên Chúa đã hoà giải muôn loài thụ tạo trong Đức Ki-tô (x. Ep 5, 6; Cl 4, 5). Do đó, những ai đặt niềm tin nơi Đức Kitô phục sinh, sẽ chẳng hề thất vọng. Vì Đức Kitô đã hoàn tất kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa “một lần cho tất cả” (x. Hr 9, 26) trong Mầu nhiệm Vượt Qua - Phục Sinh của Người. Mầu nhiệm này trở thành nền tảng hy vọng của người Kitô hữu về các thực tại cánh chung: “Nào Ðấng Kitô lại chẳng phải chịu đau khổ như thế, rồi mới được hưởng vinh quang dành cho Người sao?” (x. Lc 24, 26-27, 44-45).

Như thế, khi người Kitô hữu đảm nhận lối sống mới, tức là để cho tình yêu của Đức Kitô giải thoát và đặt mình vào trong ân sủng của Thiên Chúa (Rm 4, 25). Và để trở nên như Ðức Kitô, Đấng đã sống lại từ cõi chết, chúng ta cũng được sống đời sống mới” (Rm 6, 4). Cuối cùng, sự phục sinh của Ðức Kitô, là nguyên lý và nguồn mạch sự sống lại của người Kitô hữu mai sau: “Ðức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu, như mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người, nhờ liên đới với Ðức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống lại” (x. 1Cr 15, 20-22).[3] Và trong lúc chờ đợi sự hoàn tất đó, Ðức Kitô Phục Sinh sống trong lòng mọi tín hữu.

Như vậy, khi người tín hữu đặt tình yêu và niềm tin của mình vào thực tại tối hậu phổ quát là biến cố hoàn tất lịch sử cứu độ, sự “Phục Sinh Kẻ Chết”, cuộc “Thẩm Phán Chung” và “Thiên Đàng – Vương Quốc Thiên Chúa”, cõi vĩnh hằng trong “Trời Mới, Đất Mới” – “Cuộc canh tân hoàn vũ” biến cố tình yêu này mang đến niềm hy vọng sự sống cho người Ki-tô hữu.[4] Thì niềm hy vọng cánh chung được Đức Kitô bảo đảm và che chở. Hơn nữa, niềm hy vọng cánh chung soi chiếu cho thực tại về thể lý con người vẫn phải mang là cái chết, là sự chia lìa với cuộc sống hiện tại. Từ đây, cái chết đối với người Kitô hữu được đặt trong chân trời đức tin và siêu việt, cái chết trở nên cánh cửa để bước vào thế giới vĩnh sinh, vô hạn là nơi mà Thiên Chúa và con người ở với nhau và ở trong nhau.

       IV.    Kết Hiệp với Thiên Chúa, Ý nghĩa của Phục Sinh

Khi người Kitô hữu đặt niềm tin và tình yêu nơi biến cố phục sinh, đồng nghĩa với việc thiết lập tương quan chủ vị với Thiên Chúa. Khi đó, những hứa hẹn mà “Thiên Chúa đã và đang chuẩn bị cho những ai yêu mến Người” được thực hiện (x. 1Cr 2, 7; Rm 8, 28). Thiên Chúa cho họ thông dự vào tình yêu sung mãn phong nhiêu và sự sống thần linh vĩnh hằng của Ngài, để cuối cùng Thiên Chúa sẽ là “tất cả trong mọi sự” (x. 1Cr 15, 28). Nhờ kết hiệp với Thiên Chúa, con người đạt được những điều mình hy vọng, và sức mạnh để nhận ra các nghịch lý, những thách đố nơi cuộc sống nhân thế chỉ là sự mong manh vô thường, và chóng qua.

Nhờ sự kết hiệp với Đức Kitô Phục sinh mà tương lai của người Kitô hữu được mở ra tới tuyệt đối của Thiên Chúa, và đưa con người tới nguồn mạch sự sống vĩnh cửu. Từ đó Phục sinh đem đến cho con người nụ cười chiến thắng, trên tất cả mọi khổ đau chết chóc. Vì vậy, con người được hoàn tất lịch sử trong vinh quang chứ không phải kết thúc trong đau khổ. Như thế, Mầu nhiệm phục sinh là nền tảng cho tất cả niềm hy vọng Kitô giáo. Đức Kitô sống lại từ cõi chết, Người còn mang thương tích, không phải vì không thể chữa lành, nhưng vì Người mang trên mình cuộc khải hoàn vinh thắng trên chính khổ đau đó cho đến muôn đời.[5] Do đó, khi đối diện với cái chết, người Kitô hữu hiểu theo bối cảnh của mầu nhiệm vượt qua như là những hạt lúa: “gieo xuống thì hư nát” nhưng “trỗi dậy thì bất diệt”, “gieo xuống thì hèn hạ, mà trỗi dậy thì vinh quang”. Chính trong Đức Kitô, Đấng đã chết và đã sống lại khải hoàn, Thiên Chúa sẽ cho con người được chỗi dậy. Và mọi người sẽ được phục sinh cùng với Đức Kitô, Đấng Cánh Chung, Con yêu dấu của Thiên Chúa (x. Ep 2, 6).

    V.      Kết luận

Như vậy, biến cố phục sinh của Đức Kitô khiến cho những người tin vào Ngài thấy sự hiện hữu trường tồn, điều này như mỏ neo vững bền cho cuộc sống mong manh vô thường của phận người. Đồng thời, Đức Giêsu Phục sinh đã thắp lên sự sống tình yêu trong nước Thiên Chúa trong lòng mỗi người, tạo cho mọi người phương thế để đạt được ơn cứu độ. Và trong sự sống của Đức Kitô người tín hữu không cô đơn trên hành trình đến cõi vĩnh hằng, nhưng được bao bọc trọn vẹn bởi tình yêu của Thiên Chúa. Nhờ đó, con người cảm nghiệm được sự kết hiệp với Thiên Chúa ở trong thế giới của thần linh ngay khi còn sống ở đời này. Từ đó, người Kitô hữu ấp ủ niềm tin về sự sống vĩnh cửu tương lai, mặc dù điều đó nằm ngoài tầm với, vượt lên khả năng suy nghĩ, và tưởng tượng của con người. Như thế, tương lai của con người và thế giới tạo thành được đặt nền tảng trọn vẹn nơi mặc khải trong Đức Kitô. Quà tặng đức tin đã khai mở viễn tượng bình an của ơn cứu độ và niềm hy vọng được thông dự vào sự sống, vào vinh quang của Đức Kitô, dù người Kitô hữu phải trải qua những thử thách trong đời sống hiện sinh. Trong các thử thách, điều giằng xé con người nhất chính là sự chờ đợi “thời gian viên mãn”, thời gian có sức thâu hội và soi sáng cả quá khứ lẫn tương lai. Hơn nữa, sự sống vĩnh sinh là thực tại đã được ban cho con người rồi, mà vẫn chưa hoàn tất, nên người Kitô hữu còn mang trong mình cuộc thương khó hay sự chết của Đức Kitô và chờ mong ngày phục sinh. Và đây là lời giải đáp có ý nghĩa cứu độ chung cuộc cho mọi thử thách gian truân và đau khổn khốn cùng nơi con người. Do đó, người Kitô hữu luôn ý thức mạnh mẽ rằng đời sống hiện tại được bao trùm bởi ơn cứu độ cánh chung, vì có sự hiện diện của Đấng Phục Sinh, đặc biệt là hồng ân của Thánh Thần đã được tuôn đổ vào lòng các tín hữu. Niềm hy vọng này càng thêm chắc chắn khi được thánh Phaolô khẳng định: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 8, 11).



[1] Cf. Joseph Ratzinger, Cánh Chung Luận- sự chết và đời sống vĩnh cửu, Nxb Tôn Giáo, 2013. 80. (Bản dịch Việt ngữ của Lm Aug Nguyễn Văn Trinh).

[2] GLHTCG. 469. (Thánh I-rê-nê, Adversus haereses, 3, 19, 1: SC 211,374 (PG 7,939))

[3] Cf. GLCG, 654.

[4] Cf. Phao Lô Vũ Chí Hỷ, SSS, Cánh Chung Luận “Đạo Lý về niềm hy vọng Ki-tô giáo”, tài liệu lưu hành nội bộ, 2021. 10-11.

[5] Cf, Tôma Aquina, S. Th 3, q.54,a.4.



PIÔ PHAN VĂN TÌNH STL-K3

Mạc khải, theo Karl Rahner, là tiến trình qua đó Thiên Chúa tự diễn tả và thông ban chính mình dưới ba hình thức: trước hết, Thiên Chúa ban Lời quyền năng, Lời sáng tạo, Lời sự sống cho con người (lời tự diễn tả chính mình); thứ đến, nhờ ân sủng của Thiên Chúa mà con người có khả năng nhận thức và đón nhận Người (điều kiện khả thể); sau cùng, Thiên Chúa ra khỏi chính mình đi vào thế giới, trở thành con người trong Chúa Giêsu Kitô. (sự kiện = kinh nghiệm phạm trù)

1. Phương thức thứ nhất, lịch sử Mặc Khải của Thiên Chúa có thể được xem là một tường thuật về sự “Tự diễn tả chính mình” của Thiên Chúa nơi dân tộc được Chúa chọn, là Israel[1]. Thiên Chúa ‘nói’ Lời của Người với con người, Người truyền đạt Lời của Người cho con người trong lịch sử cụ thể của họ. Lời ấy trước hết được ấp ủ trong tâm tư của Thiên Chúa, sau đó được biểu lộ, truyền đạt cho con người. Lời của Đức Chúa (“The Word ‘God’”)[2] khi truyền đạt cho con người mang ba chiều kích:

Thứ nhất, con người có thể hiểu được (cognitive);

Thứ hai, mang tính sáng tạo với ý nghĩa là mang sự sống mới cho con người (creative);

Thứ ba, làm biến đổi con người (transformative).

Ý nghĩa này bàng bạc xuyên suốt quá trình Mặc Khải của Thiên Chúa cho dân Israel. Khi truyền đạt Lời cho con người, Thiên Chúa tạo điều kiện cho họ bước vào một tương quan đặc biệt với Ngài: có khi giống như tương quan giữa chủ và tớ, cha và con, bạn với bạn, chồng với vợ, hay như một người cố vấn…Qua đó, Lời của Đức Chúa cho con người một căn tính mới[3]. (bố mẹ bày tỏ tình thương)

2. Phương thức thứ hai, sau khi hoàn tất công trình sáng tạo, Sách Sáng Thế cho biết: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người làm ra quả là rất tốt đẹp” (St 1,31). Từ sự tốt đẹp này, Rahner nhận thấy: nơi thụ tạo, có một thứ ân sủng, mà ngài gọi là “sự Tự-Thông-Truyền chính mình của Thiên Chúa cho thụ tạo” (“the free self-communication of God to his creature”)[4]; nhờ ân sủng này, thụ tạo có thể minh chứng về sự tốt lành của Thiên Chúa. Ân sủng này, không phải như một thứ ngoại lai (extrinsic, mere superstructure) thêm vào cho bản chất con người, nhưng nằm trong cấu trúc hữu thể của con người[5]. Cũng giống như đôi tai có cấu trúc tương thích để nghe được âm thanh, con người cũng được ban cho khả năng đón nhận mạc khải từ Thiên Chúa.

Qua đó, Rahner cho thấy tính phổ quát siêu nghiệm của mặc khải, nghĩa là ơn cứu độ của Thiên Chúa được dành cho tất cả mọi người[6]. Sự khác biệt giữa trong và ngoài Kitô giáo đã được giải quyết theo nghĩa siêu vượt (transcended). Nghĩa là nhờ vào mặc khải siêu nghiệm, được hiểu như là phương thức tự thông tri của Thiên Chúa đến với tất cả mọi người là những hữu thể siêu vượt (transcendent beings) mang trong mình phẩm tính siêu nghiệm. Trong kinh nghiệm về Đức Tin Kitô giáo, chúng ta nhận biết ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa với công trình của Chúa Giêsu Kitô. Lẽ dĩ nhiên, ơn cứu độ phổ quát với lòng thương xót vô hạn của Người không thể bị giới hạn ở những ai được gọi là Kitô hữu chính thức qua việc thuộc về Giáo hội, qua Bí tích Rửa tội, mà còn lan rộng đến các “Kitô hữu vô danh” (hoặc Kitô hữu ẩn danh)[7] vốn được nhìn nhận từ trong thực tế hiện hữu nội tâm của họ[8]. Bởi lẽ, mỗi hữu thể tồn tại đều có tự do dùng lời “xin vâng” để đáp lại Lời Chúa qua mặc khải và đức tin một cách công khai hay âm thầm. (Bố mẹ cho quà)

3. Phương thức thứ ba của sự Tự-Thông-Ban của Thiên Chúa chính là Thiên Chúa trở nên con người trong Chúa Giêsu Kitô. Rahner mượn khái niệm Nhập Thể của Ngôi Lời để nói về con người như là sự hiện thể của Thiên Chúa nhờ sự Tự-Thông-Ban. Khi Thiên Chúa Tự-Thông-Ban chính Người cho con người cũng chính là lúc Thiên Chúa trở nên con người, biến cố Đức Kitô: mặc khải công, chính thức và cuối cùng cho con người[9]. Nói cách khác, con người, tinh thần (viết thường), là hiện thể của Tinh Thần (viết hoa), là Thiên Chúa, Giêsu: Chúa-Người. Do đó, “con người là cái diễn ra khi Thiên Chúa diễn tả và cởi bỏ chính mình”[10]. Và vì con người là điều mà Thiên Chúa trở nên, nên con người chỉ là chính mình khi họ đặt mình vào trong mầu nhiệm khôn dò của Thiên Chúa. Bởi vậy, hiện thể hoá tròn đầy nhất của con người là để cho Thiên Chúa trở nên con người trong sự Tự-Thông-Ban chính Ngài. Với nền tảng là sự Tự-Thông-Ban này, từ trong những chiều sâu hữu thể con người, Thiên Chúa đã hiện diện thật sự, đã trao ban ân sủng và đã mạc khải chính mình cho con người. Vì bản chất tinh thần của con người là sự Tự-Thông-Ban chính Thiên Chúa cho con người qua ân sủng và Nhập Thể, cho nên, khi con người kinh nghiệm về sự siêu việt, sự khao khát tuyệt đối, sự mở ra vô tận của mình, bất kể họ có được ý thức hay không, thì họ cũng đã kinh nghiệm về Thiên Chúa rồi.[11] (và chính bố mẹ đến thăm).

 

THƯ MỤC

Eilers, Franz J. Communicating in Ministry and Mision. Manila: Logos [Divine Word] Publications, Inc., 2009.

Giáo lý Hội Thánh Công giáo. Bản dịch của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Hà Nội: Tôn Giáo, 2012.

Grütering, Michael. “The Conception on Self-Communication of God in Karl Rahner’s Theology”. Wrocławski Przegląd Teologiczny, 2016.

Rahner, Karl. Theological Investigation. London: Darton, Longman & Todd, 1961-1992.

---------------. Hearers of the Word. Translated by Michael Richards. New York: Herder and Herder, 1969.

---------------. Foundations of Christian Faith. Translated by William V. Dych. New York: Crossroad, 1987.

---------------. The Content of Faith. Edited by Kark Lehman, Albert Raffelt, and Harvey D. Egan. New York: CrossRoad, 2006.

Rahner, Karl & Wilhelm Thiising. A New Christology. New York: The Seabury Press, 1980.

Vatican II. Dei Verbum. Ban hành ngày 18-11-1965.

------------. Lumen Gentium. Ban hành ngày 21-11-1964.

Vieira, Julie A. Karl Rahner's Understanding of the Dynamic of Continuity and Change. Toronto: The University of St. Michael's College, 1998.



[1] Cf. Franz-Josef Eilers, Communicating in Ministry and Mision, (Manila: Logos [Divine Word] Publications, Inc., 2009), p. 27.

[2] Cf. Karl Rahner, Foundations of Christian Faith, p. 44-51.

[3] Cf. Karl Rahner, Suy Niệm Đầu Năm, quoted at http://xuanbichvietnam.net/trangchu/suy-niem-dau-nam-karl-rahner/; cf. Vatican II, Dei Verbum, số 2-6. 14-16.

[4] Cf. Karl Rahner, Theological Investigation VI, (London: Darton, Longman & Todd, 1961-1992), p. 391-392; cf. Vital Luke Nguyễn Hữu Quang, Nhân Học Thần Học, Chương III, Phổ Thần Học, Karl Rahner: con người như là mầu nhiệm được bao bọc bởi ân sủng.

[5] “Cấu trúc siêu nghiệm” hay “tính siêu nghiệm” hiểu như là nền tảng và có đặc điểm vượt qua giới hạn tri thức bình thường của con người, cũng thế tính siêu nghiệm của Thiên Chúa cũng trỗi vượt hơn lý trí của con người nên cần nhờ đến ân sủng để nâng cấp trí khôn thì con người mới có khả năng tri nhận mặc khải siêu nhiên, cf. Karl Rahner, Foundations of Christian Faith, translated by William V. Dych, (New York: Crossroad, 1987), p. 123-124; cf. Karl Rahner, “Anonymous Christian”, Theological Investigation VI, p. 393.

[6] Cf. Karl Rahner. The Content of Faith. Edited by Kark Lehman, Albert Raffelt, and Harvey D. Egan. (New York CrossRoad, 2006), p. 592.

[7] “Kitô hữu vô danh” là một khái niệm được gán cho Karl Rahner. Thuật ngữ này xuất hiện lần đầu tiên trong khảo luận Poetry and the Christian (1960), và được Karl Rahner triển khai trong các khảo luận Christian and Non-Christian (1962), Anonymous Christian (1965), Annnymous Christianity and the Missionary Task of the Church, và Observations on the Problem of the ‘Anonymous Christian’ của tác phẩm đồ sộ Theological Investigation. Ngoài ra, khái niệm này còn được bàn tản mát trong nhiều tác phẩm khác của Rahner. Suy tư này vừa là một đóng góp quan trọng, đặc biệt là chất liệu cho hiến chế Lumen Gentium của công đồng Vatican II (LG 16), cf. Karl Rahner, “Poety and the Christian”, Theological Investigation 4, (London: Darton, Longman & Todd, 1961-1992), p. 366; cf. K. Rahner, “Anonymous Christian”, TI 6, p. 397.

[8] Cf. Karl Rahner, op.sit., p. 593.

[9] Cf. Karl Rahner & Wilhelm Thiising, A New Christology, (New York: The Seabury, 1980), p. 32-41.

[10] Karl Rahner, Theological Investigation VI, (London: Darton, Longman & Todd, 1961-1992), p. 392.

[11] Ibid., p. 393-394.


Thư viện Học viện Công giáo Việt Nam