וַיְהִי דְבַר־יְהוָה אֵלַי לֵאמֹר מָה־אַתָּה רֹאֶה יִרְמְיָהוּ וָאֹמַר מַקֵּל שָׁקֵד אֲנִי רֹאֶה׃

וַיֹּ֧אמֶר יְהוָ֛ה אֵלַ֖י הֵיטַ֣בְתָּ לִרְא֑וֹת כִּֽי־שֹׁקֵ֥ד אֲנִ֛י עַל־דְּבָרִ֖י לַעֲשֹׂתֽוֹ׃ פ

 

GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT

I.                Đặt vấn đề

Ngôn sứ Giê-rê-mi-a, ông đã sống cách chúng ta hơn 2500 năm trước, ông đã đáp trả tiếng gọi của Đức Chúa[1] (יְהוָה), làm ngôn sứ của Ngài để đến với muôn dân các nước, để nhổ, để lật, để hủy, để phá, để xây, để trồng (Gr 1,10). Có lẽ là bởi vì ông đã cảm thụ được nỗi bận tâm của Đức Chúa (Gr 1,11-12) và chia sẻ nỗi bận tâm đó. Qua thị kiến, ông được Đức Chúa chia sẻ cho biết, Ngài luôn canh thức và làm sao để dân của Ngài, con cái của Ngài tuân giữ những lời của Ngài để họ được sống, được thừa hưởng lời hứa của giao ước.

Ngày nay, Đức Chúa vẫn canh thức, vẫn bận tâm. Qua Ngôi Lời là Đức Giêsu, Ngài vẫn muốn ý của Ngài (những lời của Ngài) được thể hiện dưới đất cũng như trên trời (Mt 6,10). Thật vậy, Đức Giêsu Ki-tô, lời của Thiên Chúa đã đến và ở giữa chúng ta (Ga 1,14), và dân chúng đã thấy lại hình ảnh tiên báo của Giê-rê-mi-a qua con người Đức Giêsu Ki-tô (Mt 16,14), Đấng thiết lập giao ước mới (Gr 31,31-34). Thiên Chúa qua Đức Giêsu Ki-tô đã tiếp tục mời gọi mỗi người Ki-tô hữu, và trao cho họ sứ mạng canh thức trên những lời của Ngài và để những lời đó được thực hiện “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. (Gr 1,11-12; Mt 28,19-20).

II.               Mục tiêu

Đề tựa cho đoạn văn Gr 1,11-12 và cũng là đề tựa cho bài viết này là: “ĐIỀU BẬN TÂM của THIÊN CHÚA”, điều đó cho thấy, mục đích của việc chú giải đoạn văn này là muốn làm sáng tỏ nội dung ý nghĩa chính yếu của bản văn, và qua đó sẽ giúp cho độc giả hiểu được nỗi bận tâm của Thiên Chúa, và đồng thời đó cũng là điều mà Thiên Chúa bận tâm muốn chia sẻ với mỗi người Ki-tô hữu chúng ta.

III.             Phương pháp

Để thực hiện được mục tiêu chú giải đoạn văn này, người viết sẽ áp dụng phương pháp tổng hợp bao gồm: phân tích đồng đại và lịch đại, lấy chính các bản văn Kinh Thánh để giải thích Kinh Thánh. Bên cạnh đó, người viết cũng tra cứu ý nghĩa các tên gọi, các nghĩa ngữ dựa theo bối cảnh văn hoá và lịch sử Kinh Thánh.

IV.            Các bước tiến hành

Sau phần giới thiệu tổng quát như đã trình bày ở trên, phần Tiếp cận bản văn là bước quan trọng đầu tiên của việc chú giải bản văn Gr 1,11-12. Bước này gồm ba chương: chương một Quan sát tiền đề; chương hai Khảo sát khái quát; và chương ba Phân tích chi tiết (phần chú giải). Sau khi đã làm sáng tỏ nội dung ý nghĩa của bản văn từ phần Tiếp cận bản văn, phần thứ hai là đúc kết lại nội dung và ý nghĩa để từ đó rút ra bài học thiêng áp dụng trong cuộc sống.

TIẾP CẬN BẢN VĂN

I.                QUAN SÁT TIỀN ĐỀ

1.     Giới hạn bản văn và ngữ cảnh

Xét cả về mặt hình thức và nội dung, bản văn Giê-rê-mi-a 1,11-12 là một đơn vị văn chương độc lập và hoàn chỉnh.

Về mặt hình thức, đoạn văn này được khởi đầu ngay sau câu 10 và kết thúc ở câu 12 bởi dấu chấm hết câu và dấu mở đầu cho một đoạn văn mới (paragraph) “פ:[2]. Bên cạnh đó, cụm từ đầu câu 11, là một cấu trúc rất quen thuộc và thường mở đầu cho một trình thuật mới, đặc biệt trong giọng văn của các ngôn sứ: “có lời Đức Chúa nói (phán) với tôi” (וַיְהִי דְבַר־יְהוָה אֵלַי לֵאמֹר)[3]. Và ở câu kế tiếp được đóng lại hoàn hảo với lời xác nhận và giải thích ý nghĩa của Đức Chúa.

Về mặt nội dung, trình thuật này truyền tải được đầy đủ sứ điệp mặc khải của Đức Chúa, đặc biệt trong câu 12, phần giải thích của Đức Chúa cho Giê-rê-mi-a, sử dụng cấu trúc đóng khung làm nổi bậc điều bận tâm của Đức Chúa (כִּֽי־שֹׁקֵ֥ד אֲנִ֛י עַל־דְּבָרִ֖י לַעֲשֹׂתֽוֹ), Đấng đang thức canh trên lời của Ngài và làm cho lời của Ngài được thực hiện.

Cho nên có thể nói, đây là một cuộc hội thoại thân tình giữa Đức Chúa và Giê-rê-mi-a, hội thoại này làm nổi bật ý nghĩa ơn gọi, sứ vụ của Giê-rê-mi-a và cũng là của mỗi người Ki-tô hữu[4]. Theo Jerome, ngữ cảnh tổng quát về bối cảnh chính trị xã hội thời kỳ Giê-rê-mi-a sống và thi hành sứ vụ là giai đoạn phức tạp nhất của vùng Cận Đông xưa, trải qua ba đời vua nước Giu-đa[5]. Giê-rê-mi-a chứng kiến sự sụp đổ của các đế quốc lớn và sự hỗn độn của vương quốc Giu-đa[6]. Hai sự kiện chính yếu xảy ra trong thời kỳ này: thứ nhất là việc tái thiết lề luật dưới triều đại của vị vua tốt[7], vua Giô-si-gia-hu (640-609 BC)[8]. Và sự kiện thứ hai là sự suy sụp của Giê-ru-sa-lem và Giu-đa ở triều đại của hai vị vua xấu sau này: vua Giơ-hô-gia-kim (609-598 BC)[9] và vua Sê-đê-ci-a (507-587)[10], và đưa đến hậu quả sau cùng là lưu đầy ở Ba-by-lon[11]. Còn ngữ cảnh tổng quát sứ vụ của Giê-rê-mi-a theo lịch đại so với các ngôn sứ lớn nổi tiếng khác (best known) thì Giê-rê-mi-a được xếp hàng thứ tám: Amos, Hosea, Isaiah, Micah, Nahum, Zephaniah, Habakkuk, Jeremiah, và Ezekiel[12]. Tuy nhiên, nếu xếp theo thứ tự văn chương thì Jeremiah, Ezekiel, Isaiah lên hàng đầu[13]. Như thế có thể nói, bối cảnh tổng quát của ngôn sứ Giê-rê-mi-a trong toàn bộ Kinh Thánh, cũng như trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa là rất quan trọng (Gr 1,1-19)[14].

Ngữ cảnh gần và trực tiếp của bản văn là bối cảnh ở đoạn mở đầu của sách Giê-rê-mi-a với lời giới thiệu về thân thế, về niên đại, và đặc biệt là điều xác tín: “lời của ông Giê-rê-mi-a, là những lời mà ĐỨC CHÚA đã phán với ông” (Gr 1,1-3).

Bối cảnh gần liền sát ngay bản văn là trình thuật về ơn gọi ngôn sứ cho muôn dân của Giê-rê-mi-a (Gr 1,4-10).

Sau đó là bản văn làm chú giải (Gr 1,11-12).

Bối cảnh liền sau bản văn cũng là một đoạn văn mới (Gr 1,13-19), Đức Chúa tiếp tục mời gọi ông lại thấy gì và Ngài lại tiếp tục giải thích nội dung ý nghĩa như Ngài đã làm trước đó, và để khích lệ ông trong sứ vụ ngôn sứ đầy nguy hiểm và khó khăn, Ngài hứa sẽ luôn ở với ông (Gr 1,17-19)[15].

2.     Phê bình bản văn

Theo BHS[16], không có phát hiện các biến thể trong đoạn văn này, vì thế không làm thay đổi ý nghĩa thần học tổng thể, nhưng có giá trị trong việc làm sáng tỏ lịch sử truyền khẩu và biên soạn của bản văn. Tuy nhiên, chỉ có một chút khác biệt trong việc chuyển ngữ trực tiếp từ bản BHS khi đối chiếu với bản dịch tiếng Việt của Nhóm GKPV.

Sự khác biệt về chuyển ngữ này sẽ được giải thích và bàn đến ở phần Phân tích chi tiết.

3.     Bản văn

Bản dịch xác nghĩa trực tiếp từ bản văn tiếng Hip-ri theo BHS:

Bản BHS

Bản dịch xác nghĩa của tác giả từ BHS[17]

Bản dịch GKPV

וַיְהִי דְבַר־יְהוָה אֵלַי לֵאמֹר מָה־אַתָּה רֹאֶה יִרְמְיָהוּ וָאֹמַר מַקֵּל שָׁקֵד אֲנִי רֹאֶה׃

 

 

וַיֹּ֧אמֶר יְהוָ֛ה אֵלַ֖י הֵיטַ֣בְתָּ לִרְא֑וֹת כִּֽי־שֹׁקֵ֥ד אֲנִ֛י עַל־דְּבָרִ֖י לַעֲשֹׂתֽוֹ׃ פ

Có lời ĐỨC CHÚA nói với tôi: “điều gì ngươi đang thấy, Giê-rê-mi-a?” Và tôi thưa điều được thấy: “một nhánh cây Hạnh Đào”.

Và Đức Chúa đã nói với tôi: “Ngươi đã thấy đúng, bởi vì Ta đang canh thức trên những lời của Ta để thực hiện những lời đó.

Có lời ĐỨC CHÚA phán với tôi rằng: “Giê-rê-mi-a, ngươi thấy gì?” Tôi thưa: “Tôi thấy một nhánh “cây canh thức”.”

 

Đức Chúa liền phán với tôi: “Ngươi thấy đúng, vì Ta đang canh thức để thi hành lời Ta.”

II.               KHẢO SÁT KHÁI QUÁT

1.     Cấu trúc:

Đây là một đơn vị bản văn hoàn chỉnh như đã trình bày ở trên, đồng thời cũng là một hội thoại hoàn chỉnh. Dựa trên dấu ngắt câu[18] và động từ nói “אמר”, người viết phân cấu trúc đoạn văn này như sau:

A Đức Chúa nói: “וַיְהִי דְבַר־יְהוָה אֵלַי לֵאמֹר מָה־אַתָּה רֹאֶה יִרְמְיָהוּ” (c.11a)

B Giê-rê-mi-a nói: “וָאֹמַר מַקֵּל שָׁקֵד אֲנִי רֹאֶה׃” (c.11b)

A’ Đức Chúa nói: “וַיֹּ֧אמֶר יְהוָ֛ה אֵלַ֖י הֵיטַ֣בְתָּ לִרְא֑וֹת כִּֽי־שֹׁקֵ֥ד אֲנִ֛י עַל־דְּבָרִ֖י לַעֲשֹׂתֽוֹ׃ פ” (c.12)

2.     Kết cấu trình thuật

Các cảnh của trình thuật Gr 1,11-12 tương ứng với cấu trúc bên trên:

Cảnh

Tiêu chuẩn phân cảnh

Chủ đề

Cảnh một:

(c. 11a)

Nhân vật: Đức Chúa và Giê-rê-mi-a

Hành động: Nói và hỏi

Giê-rê-mi-a đang thấy gì?

Cảnh hai:

(c. 11b)

Nhân vật: Giê-rê-mi-a và Đức Chúa

Hành động: Trả lời (nói)

Một nhánh cây Hạnh Đào.

Cảnh ba:

(c. 12)

Nhân vật: Đức Chúa và Giê-rê-mi-a

Hành động: Nói và giải thích

Thấy đúng, và giải thích thêm cho đúng

Kết cấu trình thuật cho thấy Đức Chúa là người chủ động hỏi, xác nhận đúng sai, và đồng thời là Người giải thích ý nghĩa. Thời gian kể và được kể bằng nhau. Tuy chỉ vỏn vẹn trong hai câu, nhưng cũng đủ để cho thấy điều Đức Chúa đang bận tâm, đang canh thức.

III.             PHÂN TÍCH CHI TIẾT

Qua khảo sát khái quát, giờ đây chúng ta phân tích chi tiết ý nghĩa từng từ, cụm từ trong mỗi cảnh hội thoại hầu khám phá ra nội dung sứ điệp của bản văn muốn truyền tải.

1.     Có lời ĐỨC CHÚA nói với tôi: “Điều gì ngươi đang thấy, Giê-rê-mi-a?”

1.1 Có lời của Đức Chúa nói với tôi “וַיְהִי דְבַר־יְהוָה אֵלַי לֵאמֹר”:

1.1.1 Đức Chúa “יְהוָה

Đức Chúa (יהוה), là tên gọi của Thiên Chúa trong Cựu Ước. Tên luôn luôn được viết với bốn phụ âm của tiếng Hebrew: yod (Y), he (H), waw (W), he (H), và vì lý do đó, cho nên YHWH được gọi là “tên bốn chữ” (Tetragrammaton). Trước kia, tên YHWH (יהוה) không có nguyên âm, sau này các học giả Do Thái (được gọi là Masoretes) cho thêm nguyên âm vào thành: “יְהוָה”. YHWH (יהוה) khi thì đứng một mình, khi thì có giới từ hay liên từ đi theo, và xuất hiện hơn 6000 lần trong Kinh Thánh Cựu Ước[19]. Vì đây là tên cực thánh cho nên chỉ được viết bằng bốn chữ cái “Tetragrammaton”, và khi gặp hạn từ này sẽ phải đọc thay thế là Adonai (Đức Chúa) hoặc Elohim (Thiên Chúa). Ý nghĩa của tên gọi YHWH không được biết rõ, nhưng dựa vào văn phạm, từ YHWH (יהוה) được hình thành từ gốc của động từ hāwāy, tương đương với động từ To Be trong tiếng Anh, có nghĩa: Là/ Hiện Hữu[20]. Phân tích này cho thấy, những khái niệm thần học về tên YHWH mang ý nghĩa: Ta là Đấng Ta là (one who is); Ta là Đấng Tự Hữu/ Hằng Hữu (who exists), hay Đấng Nguồn Hiện Hữu (who causes existence). Điều này được chứng thực khi Đức Chúa (YHWH) đã mặc khải tên Mình cho Mô-sê ở bụi gai trong sách Xuất Hành 3:14[21].

Đối với Giê-rê-mi, Đức Chúa (YHWH) là một Đức Chúa hằng sống. Các thần khác đều là hư ảo, giả dối, thậm chí không thể mang lại mưa (Gr 14,22), trong khi đó Đức Chúa là nguồn cung cấp nước tự nhiên (Gr 2,13; 17,7–8,13), Ngài gửi mưa (5,24; 14,22b), kiểm soát nước biển (5,22), và trao cả đất đai và dân tộc vào tay bất kỳ ai mà Ngài muốn (27:5–6). Các thần hư ảo do con người lập nên không có quyền năng cứu rỗi (Gr 2,27b-28; 11,12), không hề hay biết. Ngược lại, Đức Chúa hay biết mọi sự (12:3; 15:15; 18:23; 29:23), Ngài biết mọi người và Ngài biết các sự kiện, không chỉ những sự kiện đang diễn ra mà cả những sự kiện được lên kế hoạch cho tương lai (1:5; 29:11; 33:3). Đặc biệt, Đức Chúa là một thẩm phán công chính (11:20) [22].

Dựa trên ngữ cảnh của bản văn, và đặc tính của nguồn văn J, nguồn J (Jehovist, Yahwist) diễn tả tính cách Đức Chúa như con người[23]: Ngài có tên gọi, và được biết đến dưới nhiều cái tên[24], nhưng quan trọng nhất trong truyền thống Thánh Kinh, Đức Chúa (YHWH) là Thiên Chúa của giao ước “Yahweh is the god of the covenant”[25][26]. Và riêng với Giê-rê-mi-a, Đức Chúa là Thiên Chúa hằng sống, Ngài luôn hành động theo sự công chính của Ngài[27].

1.1.2 Lời “דָּבָר” (dabar):

Trong ngôn ngữ Hebrew, דָּבָר” (dabar) là một trong hai từ chính yếu thường dùng để diễn tả “lối nói thần linh” (divine speech), lời của Thiên Chúa hay Đức Chúa nói với dân của Ngài, và thường xuất hiện nhiều trong sách các ngôn sứ. דָּבָר” (dabar) có thể ở dạng động từ "to speak" (nói) hay danh từ "word" (lời). Động từ thường xuất hiện ở dạng Piel, tần suất xuất hiện là 289 lần, và xuất hiện 448 lần dưới dạng danh từ[28]. Trong câu 11 này, דָּבָר” (dabar) là một danh từ hợp giống số cách, đóng vai là sử hữu cách bổ nghĩa cho Đức Chúa (lời Đức Chúa).

1.1.3 Nói/ phán/ thưa “אמר” (amar):

Động từ “אמר” (amar) là từ chính yếu thứ hai thường dùng để diễn tả “lối nói thần linh” (divine speech). Động từ “אמר” (amar) xuất hiện thường xuyên hơn trong sách các ngôn sứ, 1,411 lần, và tổng cộng 5,000 lần trong Kinh Thánh mang nghĩa "to say" (nói) [29]. אמר” (amar) được sử dụng cho phát ngôn của con người như trong câu 11 này và trong Is 2:3; Jer 1:6; Ezek 2:4, nhưng chủ thể chính trong ngữ cảnh thường là Thiên Chúa, và “אמר” (amar) xuất hiện 16 lần trong sách các Ngôn sứ trong bối cảnh “lối nói thần linh”: Is 1:11; Jer 1:4; Ezek 2:1; Dan 8:13; Hos 1:2; Joel 2:19; Amos 1:2; Obad 1; Jon 1:1; Mic 2:3; Nah 1:12; Hab 2:2; Zeph 3:7; Hag 1:1; Zech 1:1; Mal 1:2. Ngoài ra cũng có hai danh từ có liên hệ với gốc động từ này, nhưng rất ít được xuất hiện[30].

Tóm kết phần 1.1:Có lời Đức Chúa nói với tôi” là một cấu trúc rất quen thuộc, đặc biệt trong giọng văn ngôn sứ. Nếu dịch “có lời Đức Chúa phán với tôi” thì sẽ diễn tả một Thiên Chúa từ trên cao, tại thượng “phán” xuống cho bề tôi. Nhưng nếu dựa vào bối cảnh của bản văn, của lời hội thoại, cộng với truyền thống văn chương (nguồn J) trình bày tính cách một Thiên Chúa như nhân, một Thiên Chúa của giao ước luôn đồng hành cùng với dân Người, và đồng thời có sự xuất hiện của giới từ “אֶל” (nói trực tiếp với…), phần 1.1 diễn tả một cuộc trò chuyện thân mật giữa Đức Chúa và Giê-rê-mi-a như diện đối diện với nhau, có thể nói như hai người bạn. Chính vì thế, người viết chọn cách dịch: “Có lời Đức Chúa nói với tôi” sẽ đúng hơn cách dịch một Thiên Chúa từ trên cao phán xuống.

1.2 Điều gì ngươi đang thấy, Giê-rê-mi-a? “מָה־אַתָּה רֹאֶה יִרְמְיָהוּ

1.2.1 Thấy “ראה”, thị kiến của ngôn sứ

Động từ “ראה” (thấy) lần đầu tiên xuất hiện ở St 1,4  וַיַּ֧רְא אֱלֹהִ֛ים אֶת־הָא֖וֹר כִּי־ט֑וֹב” (và Thiên Chúa thấy ánh sáng thật tốt đẹp). Động từ này xuất hiện rất nhiều trong Kinh Thánh, tổng cộng 1294 lần[31]. Có một số chồng chéo về mặt ngữ nghĩa liên quan đến thị kiến của các vị ngôn sứ: nhầm lẫn giữa những thị kiến “מַרְאָה” (visions), và những giấc mơ “חֲלוֹם” (dreams). Không phải tất cả các giấc mơ đều là thị kiến (St 20,3; 51,10; 40,5), nhưng thị kiến của một ngôn sứ có thể đến từ giấc mơ (Đa-ni-en 7; Da-ca-ri-a 3; 4,1). Ở một số nơi, thị kiến và giấc mơ cũng mang tính đồng nghĩa với nhau “Người phán: “Hãy nghe Ta nói đây! Nếu trong các ngươi có ai là ngôn sứ, thì Ta, ĐỨC CHÚA, Ta sẽ tỏ mình ra cho nó trong thị kiến[32], hoặc sẽ phán với nó trong giấc mộng.” (Ds 12,6). Tuy nhiên trong từ vựng tiếng Hebrew, từ thị kiến “מַרְאָה” không phải lúc nào cũng mang nghĩa thị kiến, đặc biệt trong thị kiến “thung lũng bộ xương khô” trong Ê-dê-ki-en 37,1-14[33].

Các ngôn sứ thường tuyên sấm lời Đức Chúa được mặc khải qua giấc mộng חֲלוֹם”, hay được thấy “ראה” qua thị kiến מַרְאָה (Joel 3,1)[34]. Riêng với Giê-rê-mi-a, “thấy qua thị kiến” hay “thấy trong giấc mộng” vẫn chưa đủ, vì Giê-rê-mi-a cho rằng: đôi khi thị kiến và giải thích thị kiến là do đầu óc người đó tưởng tượng mà ra, không phải là thánh ý của Chúa. Bằng chứng là trong thời của Giê-rê-mi-a đã có nhiều người tuyên sấm giả, phỉnh phờ dân chúng: “ĐỨC CHÚA các đạo binh phán như sau: đừng nghe lời các ngôn sứ tuyên sấm, chúng phỉnh phờ các ngươi; điều chúng nói chỉ là thị kiến do tưởng tượng, chứ không phải do miệng ĐỨC CHÚA phán ra.” (Gr 23,16). Theo Giê-rê-mi-a, thẩm quyền tuyên sấm của một ngôn sứ thật phải hội đủ hai điều kiện: thứ nhất là thấy, có thể là thấy “ראה” qua thị kiến מַרְאָה” hay giấc mơ “חֲלוֹם”. Thứ hai là phải nghe những lời từ miệng Đức Chúa phán ra לֹ֖א מִפִּ֥י יְהוָֽה[35].

Như thế, bối cảnh Đức Chúa nói: “điều gì ngươi đang thấy, Giê-rê-mi-a?” như là lời Ngài mời gọi, như là điều mà Đức Chúa muốn chỉ cho ông thấy sau khi Ngài gọi và đặt để ông là người đứng đầu các dân các nước, để nhổ, để lật, để hủy, để phá, để xây, để trồng (Gr 1,10). Vì thế cho nên, đây có lẽ không phải là thị kiến hay là cái thấy ảo, nhưng là cái thấy trên những đồ vật sự vật có thật trong cuộc sống (dấu chỉ thời đại), bên cạnh Giê-rê-mi-a, mà qua đó, Thiên Chúa cho ông hiểu điều Ngài muốn nói, điều Ngài muốn bày tỏ. Chúng ta sẽ còn thấy nhiều lần như vậy trong Giê-rê-mi-a và trong sách ngôn sứ khác (Gr 24,1-10; Am 7,8; 8,2)[36].

1.2.2     Giê-rê-mi-a

Tên Giê-rê-mi-a có nghĩa “Tán dương Đức Chúa” (exaltation of the Lord)[37]. Ông sinh ra ở A-na-thốt trong đất Ben-gia-min, là một ngôi làng nhỏ cách phía Bắc cách Giê-ru-sa-lem 5 km. Cha ông là tư tế Khin-ki-gia-hu (Gr 1,1-2). Ông là một trong những ngôn sứ đặc biệt, được chỉ định làm ngôn sứ trước khi được hình thành trong dạ mẹ (Gr 1,5), và chưa đủ tuổi làm ngôn sứ (Gr 1,7-8). Với đặc sủng này, một số giáo phụ hiểu rằng, ông được ơn không mắc tội tổ tông truyền[38]. Ông được mời gọi sống độc thân xem như là một “sứ điệp gửi đến cho những người cùng thời rằng: đại hoạ đang chờ đợi Giu-đa, tất cả sẽ chết, thành thị sẽ bị phá bỏ tang hoang, không còn chuyện vui vẻ của cưới xin, sẽ không còn gia đình, nhất là không còn được cử hành tang chế và chôn cất người chết, đây là một bất hạnh kinh khủng (x. 22,18-19; 1 V 14,11; Ed 29,5). Hơn nữa, Giê-rê-mi-a đã chứng kiến cảnh lưu đầy dân Chúa vào năm 598 và cảnh Giê-ru-sa-lem bị sụp đổ như là chứng nhân trực tiếp và bất lực vào năm 587.”[39]

Tầm ảnh hưởng của Giê-rê-mi-a là rất lớn, và đặc biệt là sau khi ông qua đời. Ông đã để lại một trong những quyển Kinh Thánh sách dài nhất[40]. Trong quy điển (canon), sách của ông được xếp vào nhóm những ngôn sứ lớn, và đứng vị trí thứ hai sau I-sai-a[41]. Tên Giê-rê-mi-a được nhắc đến 130 lần trong sách của ông. Sách của ông được cộng đồng bị lưu đày đọc và suy gẫm. Tiên tri Ê-dê-ki-en, các sách Thánh Vịnh, và phần hai của I-sai-a cũng ảnh hưởng bởi tác phẩm của ông[42]. Ngoài ra, sách của ông được tiên tri Đa-ni-en suy gẫm và nhắc đến: “tôi đọc Sách Thánh để tìm hiểu ý nghĩa con số những năm phải trôi qua trước khi mãn thời kỳ Giê-ru-sa-lem phải chịu cảnh điêu tàn, tức là bảy mươi năm, theo lời ĐỨC CHÚA phán với ngôn sứ Giê-rê-mi-a.” (Dn 9,2). Ông cũng được dân chúng công nhận là một ngôn sứ lớn: dân chúng so sánh ông như Mô-sê trong Cựu ước, và như Chúa Giêsu trong thời Tân ước (Mt 16,14)[43].

Tóm kết phần 1.2: Điều gì ngươi đang thấy, Giê-rê-mi-a?” có thể xem như một lời mời gọi của Đức Chúa, Ngài mời gọi hay chỉ cho ông sự vật, cảnh vật thực tế như là dấu chỉ của thời đại, để qua đó, Ngài mặc khải cho ông biết điều bận tâm hay ý định của Ngài.

2.     Và tôi thưa điều được thấy: “Một nhánh cây Hạnh Đào”.

Cây Hạnh Đào “Almond/ Amygdalus communis/ Prunus dulcis” trong ngôn ngữ Hebrew có hai từ để diễn đạt là: luz “לוּז” (St 30,37; Xh 25,33; 37,19) và shaqed “שָׁקֵד” (St 43,11; Xh 25,34; 37,20; Ds 17,23; Gv 12,5; Gr 1,11). Ở vùng Trung Đông “Middle East”, Cây Hạnh Đào là cây đầu tiên ra hoa, thường trong tháng Giêng, báo hiệu bắt đầu một mùa nông nghiệp mới[44]. Shaqed “שָׁקֵד” trong tiếng Hebrew có nghĩa là siêng năng, cần cù “diligence”, và hoa của cây mang biểu tượng báo hiệu đánh thức mùa xuân “the flowers symbolize the awakening of spring”. Vì mang tính biểu tượng đó, trong tiếng Hebrew, cây còn có tên: “cây canh thức”[45]. Shaqed “שָׁקֵד” xuất hiện tổng cộng sáu lần trong Kinh Thánh, trong khi đó luz “לוּז” ít xuất hiện hơn[46].

Cây Hạnh Đào thường được dùng để làm thực phẩm, làm quà tặng (St 43,11[47]), và thường được dùng làm đồ trang trí hơn[48]:

Ngươi sẽ làm một trụ đèn bằng vàng ròng. Ngươi sẽ làm trụ đèn, chân đèn và nhánh đèn bằng vàng gò; đài hoa, nụ hoa và cánh hoa gắn liền với trụ đèn. Sáu nhánh đâm ra hai bên: ba nhánh bên này, ba nhánh bên kia. Trên nhánh bên này, có ba đài hoa hình hoa hạnh đào, với nụ và cánh hoa; trên nhánh bên kia, có ba đài hoa hình hoa hạnh đào, với nụ hoa và cánh hoa. Sáu nhánh từ trụ đèn đâm ra sẽ đều như thế. Ở thân trụ đèn, có bốn đài hoa hình hoa hạnh đào, với nụ hoa và cánh hoa. (Xh 25,32-34)[49].

Ngoài ra, cây Hạnh Đào cũng mang biểu tượng “được Đức Chúa chọn”[50].

ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê rằng: “Hãy bảo con cái Ít-ra-en nộp cho ngươi, qua các trưởng tộc, mỗi gia tộc một cây gậy, tất cả là mười hai cây. Ngươi sẽ viết tên mỗi người vào cây gậy của nó … Ai được Ta chọn thì gậy của nó sẽ đâm chồi. Hôm sau ông Mô-sê tới Lều Chứng Ước, thì kìa, cây gậy của ông A-ha-ron thuộc gia tộc Lê-vi đã đâm chồi, trổ bông và kết trái hạnh đào ... ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê: “Hãy đưa cây gậy của A-ha-ron đặt lại trước Chứng Ước, để lưu trữ như dấu chỉ cảnh cáo những đứa phản loạn. Như thế ngươi sẽ làm tiêu tan không để thấu tới Ta những lời chúng kêu ca lẩm bẩm; và chúng sẽ khỏi phải chết.” (Ds 17, 16-17. 20-23. 25).

Người viết dịch điều Giê-rê-mi-a thấy được là một nhánh cây Hạnh Đào[51]. Cách dịch này được NAB, BGT đồng thuận, bản BFC cũng dịch cây Hạnh Đào nhưng họ giải thích thêm là cây Canh thức, riêng Nhóm GKPV dịch điều Giê-rê-mi-a thấy là “cây canh thức”. Xét theo ngữ nghĩa, cây Hạnh Đào chính xác hơn vì “שָׁקֵד” là danh từ, giống đực, số ít, ở trạng thái tuyệt đối và chỉ có một nghĩa duy nhất là “cây Hạnh Đào” (Almond)[52]. Cây Canh Thức là ý nghĩa biểu tượng của cây Hạnh Đào, và nếu chuyển ngữ là cây Canh Thức ở đây sẽ không làm sáng tỏ được ý nghĩa và điều độc đáo của câu 12, điều Đức Chúa nói và giải thích với Giê-rê-mi-a.

3.     Và Đức Chúa đã nói với tôi: “Ngươi đã thấy đúng, bởi vì Ta đang canh thức trên những lời của Ta để thực hiện những lời đó.

3.1 Ngươi thấy đúng “הֵיטַ֣בְתָּ לִרְא֑וֹת

Đức Chúa xác nhận “ngươi đã thấy đúng”. Trước nhất là thấy đúng sự vật mà Thiên Chúa mời gọi ông nhìn: “שָׁקֵד” (cây Hạnh Đào) vì động từ “יטב” được sử dụng ở thì perfect, dạng hiphil, cho thấy hành động hay việc thấy của Giê-rê-mi-a là thấy hoàn hảo trên đối tượng nhìn, bằng chứng là được Đức Chúa khen là tốt, là đúng. Nhưng, điều lạ và cũng là điều đặc biệt ở đây: tại sao điều Giê-rê-mi-a thấy đúng mà Đức Chúa lại phải giải thích ở phân đoạn tiếp theo? Như thế, thấy đầu tiên của Giê-rê-mi-a là điều thấy hoàn hảo về mặt thể lý. Điều thấy thứ hai, mang ý nghĩa biểu tượng, ý nghĩa mặc khải phải được Thiên Chúa giải thích khai sáng cho ông.

3.2 Bởi vì Ta đang canh thức trên những lời của Ta để thực hiện những lời đó.

Điều độc đáo trong câu này, điều mà Đức Chúa giải thích cho Giê-rê-mi-a “כִּֽי־שֹׁקֵ֥ד” (bởi vì ta đang canh thức), xem ra không ăn nhập gì với điều Giê-rê-mi-a thấy là cây Hạnh Đào. Như thế, xem ra cách dịch thấy cây Canh Thức có lẽ sẽ hợp lý hơn. Nhưng không phải vậy, đây là một lối chơi chữ trong tiếng Hebrew: danh từ “שָׁקֵד” (cây Hạnh Đào), và động từ “שׁקד” (thức canh, canh thức) giống nhau có cùng chung ba phụ âm. Điều đó cho thấy, Giê-rê-mi-a thấy đúng sự vật là cây Hạnh Đào vì dùng dưới dạng danh từ, nhưng Đức Chúa giải thích cho ông biết ý nghĩa lại bằng động từ, cho nên hình ảnh nhánh cây đó trở thành hình ảnh “Đức Chúa đang canh thức”, đang bận tâm. Đây cũng là điều Giê-rê-mi-a cảm nhận và chỉ ra một ngôn sứ thật cần phải có đủ các điều kiện: Thấy và Nghe từ miệng Đức Chúa (Gr 23,16).

Động từ “שׁקד” được sử dụng dưới dạng phân từ, giống đực, số ít, trạng thái tuyệt đối, có chủ ngữ là Đức Chúa “אֲנִי[53]. Chính vì thế trong ngữ cảnh này, “כִּֽי־שֹׁקֵ֥ד אֲנִ֛יsẽ được hiểu là: Ta đang canh thức “I (am) watching”.

Thêm một điều độc đáo thứ hai trong phân đoạn sau này là cấu trúc đóng khung, một cấu trúc cũng rất thường gặp trong tiếng Hebrew, với cấu trúc này làm nổi bật lên điều Đức Chúa đang canh thức hay nỗi bận tâm của Ngài: “עַל־דְּבָרִ֖י לַעֲשֹׂתֽוֹ”. Những lời của Ta “דְּבָרִ֖י” là trung tâm: Đức Chúa canh thức trên những lời của Ngài “דְּבָרִ֖י” và đồng thời việc Ngài hành động để những lời của Ngài “דְּבָרִ֖י” được thực hiện. Cấu trúc được đóng khung như sau:

Đức Chúa đang canh thức trên

NHỮNG LỜI CỦA NGÀI

Đức Chúa thực hiện

Tóm kết 3: phần này gồm hai ý chính:

Thứ nhất, một ngôn sứ thật ngoài được thấy ra như Giê-rê-mi-a đã thấy, cần phải thêm điều kiện được nghe từ miệng Đức Chúa như Giê-rê-mi-a được nghe giải thích.

Thứ hai, Đức Chúa đang canh thức trên những lời của Ngài để thực hiện những lời đó.

NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA

I.                Nội dung:

Gr 1,11-12 là một đơn vị bản văn hoàn chỉnh. Nếu xét nội dung của chính nó, đây là một hội thoại thân tình như hai người bạn giữa Đức Chúa và Giê-rê-mi-a. Và hơn một người bạn, Đức Chúa vừa là một người thầy và vừa là Đức Chúa của ông, Ngài giải thích cho ông biết ý nghĩa của điều ông thấy và đó cũng là điều Đức Chúa bận tâm. Trước đó ông đã sợ khi được Đức Chúa mời gọi, và đặt ông làm ngôn sứ “để ông đứng đầu các dân các nước, để nhổ, để lật, để hủy, để phá, để xây, để trồng.” Sau khi ông đã thấy và đã được Đức Chúa chia sẻ nỗi bận tâm của mình (Gr 1,11-12), những trình thuật tiếp theo sau đó cho thấy ông đã đón nhận, tận tuỵ và thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình để chia sẻ nỗi bận tâm của Thiên Chúa, để lời Ngài được thực hiện.

Và xét nội dung bản văn trong ngữ cảnh chương I, bản văn Gr 1,11-12 trở thành tâm điểm, làm nổi bật điều bận tâm của Đức Chúa không chỉ ở sách Giê-rê-mi-a, mà còn xuyên suốt mãi đến bây giờ.

A - Có lời Đức Chúa mời gọi Giê-rê-mi-a và ông sợ, Đức Chúa động viên ông “đừng sợ” (c.4-10)

-        B- Có lời Đức Chúa mời gọi ông thấy và giải thích cho ông điều Đức Chúa đang canh thức, bận tâm (c. 11-12)

A - Có lời Đức Chúa mời gọi ông lại thấy và động viên ông đừng sợ vì “Ta ở với ngươi” (c.13-19)

Như thế, ơn gọi và sứ vụ của Gê-rê-mi-a rất đặc biệt. Ông là một ngôn sứ thật được Đức Chúa gọi cách đặc biệt, được Đức Chúa đặt để và sai đi. Lời của ông là lời của Đức Chúa (Gr 1,7.9.17). Ông mang lấy điều bận tâm của Đức Chúa, ông cùng Đức Chúa canh thức trên những lời của Ngài trong sứ vụ ngôn sứ: sẵn sàng để nhổ, để lật, để hủy, để phá. Bên cạnh loại trừ những điều xấu, điều tội đi ngược lại với những lời của Đức Chúa, sứ vụ của ông cũng “để xây, để trồng”, vun vén cho những lời của Ngài được thực hiện.

II.               Ý nghĩa:

Bản văn Gr 1,11-12 là một hội thoại tuy ngắn, nhưng đem lại rất nhiều ý nghĩa:

Với trình thuật J, diễn đạt cho chúng ta thấy Đức Chúa (YHWH) là một Thiên Chúa rất gần, luôn đồng hành cùng dân, luôn canh thức, bận tâm vì con người hay bội tín, chạy theo các thần hư ảo.

Trình thuật cũng cho thấy một Thiên Chúa luôn trung tín với giao ước. luôn luôn canh cánh trong lòng, làm sao để con người luôn tuân giữ lời của Ngài để họ được sống, được hưởng lời hứa của giao ước.

Thiên Chúa muốn nên nghĩa thiết với con người được ví như vợ chồng (Gr 2,2; 3,1). Nhưng con người luôn quay lưng lại với Ngài, ngoại tình đi theo những thần hư ảo để trở nên hư ảo (Gr 2,5.28). Không bỏ rơi con người, để cảnh báo và mời gọi con người về lại với mình để được thừa hưởng lời hứa của giao ước, Thiên Chúa đã kêu gọi những ngôn sứ qua các thời kỳ khác nhau, và đến thời đến buổi, Ngài sai chính Con Một của Ngài là “Lời” của Ngài đến và ở cùng nhân loại.

Điều bận tâm của Thiên Chúa được Ngài nói cho Giê-rê-mi-a, hình ảnh đó gợi đến hình ảnh Đức Giêsu Ki-tô nói với các môn đệ của Ngài: “Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.” (Ga 15,15). Điều này một lần nữa cho thấy, Thiên Chúa xem trọng con người, xem như những người bạn, Ngài chia sẻ không giấu diếm những nỗi bận tâm của mình.

Ơn gọi Giê-rê-mi-a cũng là ơn gọi của mỗi Ki-tô hữu. Thiên Chúa qua Đức Giêsu Ki-tô, Ngài đã mở cả cạnh sườn mình ra (Ga 19,34; 20,27) để mọi người thấy điều “khát” khao của Thiên Chúa (Ga 19,28), mời gọi con người hãy ăn năn sám hối và tin vào “lời của Ngài” là Đức Giêsu Ki-tô thì sẽ được sự sống đời đời (Ga 17,3; 20,31). Điều giờ đây là lời đáp trả và loan báo Tin Mừng của mỗi người Ki-tô hữu chúng ta để lời của Ngài hay ý Cha được thực hiện dưới đất cũng như trên trời (Mt 6,10).


 

DANH MỤC THAM KHẢO

 

1.     Biblia Hebraica Stuttgartensia.

2.     Nhóm CGKPV. Kinh Thánh Lời Chúa Cho Mọi Người. Hà Nội: Tôn Giáo, 2019.

3.    Nova Vulgata. Novum Testamentum.

4.    The New American Bible. USA: Catholic Bible Press, 1987.

5.     Brad Haugard. Biblical Names and their Meanings. Hitchcock's New and Complete Analysis of the Holy Bible, 1800s.

6.     Chantal Reynier, chuyển ngữ Thiên Hựu, Xuân Hùng. Để Đọc Các Ngôn Sứ. HCM: Phương Đông, 2017.

7.     David Noel Freedman. The Anchor Bible Dictionary. New York: Doubleday, 1992.

8.     Holladay. Hebrew and Aramaic Lexicon of the OT.

9.   Lytton John Musselman. A Dictionary of Bible Plants. USA: Cambridge University Press, 2012.

10. Mark J. Boda and J. Gordon McConville. Dictionary of the Old Testament Prophets. USA: IVP Academic, 2012.

11. Nguyễn Ngọc Rao. Tìm Hiểu Các Sách Ngôn S.

12. Nguyễn Văn Hội. Giêrêmia. HCM, HVCG, 2025.

13. Phạm Quốc Tuấn. Tìm Hiểu Ngũ Thư. HCM: HVCG, 2024.

14. Raymond E. Brown, Joseph A. Fitzmyer, Roland E. Murphy. The New Jerome Biblical Commentary. India Bengaluru: Theological Publications, 2022.

15.  Strong.s Exhaustive Concordance. Hendrickson Publishers.

16. The New Interpreter’s Bible Commentary, Volume IV. Nashville: Abingdon Press, 2015.

17. Thomas Lambdin. Introduction to Biblical Hebrew. New York: Scribner’s, 1971.

18. Tremper Longman III and Raymond B. Dillard. An Introduction to the Old Testament. Grand Rapids, Michigan: Zondervan, 2006.

Joseph Quang Bình

[1] Bài viết này, người viết sẽ dùng từ Đức Chúa (YHWH) thay cho Thiên Chúa (Elohim).

[2] Đoạn văn này duy chỉ có hai câu 11và 12.

[3] Tổng cộng trong chương I xuất hiện ba lần cụm từ mở đầu một đoạn văn mới: “Có lời Đức Chúa phán với tôi ” (c. 4.11.13).

[4] Người Ki-tô hữu sau khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội sẽ được tham gia ba chức năng “Tư tế, Vương đế, Ngôn sứ” của Đức Giê-su Ki-tô.

[5] Danh sách liệt kê bỏ qua hai vị vua Jehoahaz và Jehoiachin, có lẽ vì triều đại của các vị vua này quá ngắn không đáng kể, chỉ có ba tháng.

The New Jerome Biblical Commentary, 270.

[6] “Jeremiah's Time. Jeremiah lived through one of the most troubled periods of the ancient Near East. He witnessed the fall of a great empire and the rising of one even greater. In the midst of his turmoil, the kingdom of Judah, then in the hands of deplorable kings, came to its downfall by resisting this overwhelming force of history.”

The New Jerome Biblical Commentary, 265.

[7]Giô-si-gia lên làm vua khi được tám tuổi, và trị vì ba mươi mốt năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giơ-đi-đa, con ông A-đa-gia; bà là người Bót-cát. Vua đã làm những điều ngay chính trước mắt ĐỨC CHÚA, và trong mọi sự vua đi theo đường lối vua Đa-vít, tổ tiên vua; vua không đi trệch bên phải bên trái … Trước vua, không có vua nào đã trở lại với ĐỨC CHÚA hết lòng, hết dạ và hết sức mình, theo đúng Luật Mô-sê, như vua; và sau vua, cũng chẳng thấy xuất hiện vua nào được như vua.” (2 V 22,1-2; 23,25).

Xem thêm: Chantal Reynier, chuyển ngữ Thiên Hựu, Xuân Hùng, Để Đọc Các Ngôn Sứ (HCM: Phương Đông, 2017), 177.

[8] Ông vua này “lập giao ước trước nhan ĐỨC CHÚA, cam kết đi theo ĐỨC CHÚA và hết lòng hết dạ tuân giữ các mệnh lệnh, chỉ thị và quy tắc của Người, để chu toàn các khoản của Giao Ước được ghi chép trong sách đó. Toàn dân chấp nhận giao ước.” (2 V 23,3).

[9]Giơ-hô-gia-kim lên ngôi vua khi được hai mươi lăm tuổi, và trị vì mười một năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Dơ-vi-đa, con gái ông Pơ-đa-gia; bà là người Ru-ma. Vua đã làm điều dữ trái mắt ĐỨC CHÚA, hệt như tổ tiên vua.” (2 V 23,26-37).

[10] Thời kỳ đen tối và bi thảm nhất trong lịch sử Israel được miêu tả ngắn gọn trong 2 V 24,10-16:

Khi ấy, các thuộc hạ của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-by-lon, tiến lên đánh Giê-ru-sa-lem, và thành bị vây hãm. Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-by-lon, đến đánh thành, trong khi các thuộc hạ của vua vây hãm thành. Vua Giơ-hô-gia-khin, vua Giu-đa, cùng với mẹ vua, các thuộc hạ, các tướng lãnh và thái giám của vua ra hàng vua Ba-by-lon. Vua đã bị bắt vào năm thứ tám triều vua Ba-by-lon. Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đưa mọi kho tàng của Nhà ĐỨC CHÚA và các kho tàng của hoàng cung ra khỏi đó. Vua đập bể mọi đồ bằng vàng mà vua Sa-lô-môn, vua Ít-ra-en, đã làm để dùng trong đền thờ ĐỨC CHÚA, như ĐỨC CHÚA đã phán. Vua bắt toàn thể Giê-ru-sa-lem, mọi tướng lãnh và mọi dũng sĩ đi đày, tất cả là mười ngàn người phải đi đày, cùng với mọi thợ rèn và thợ làm khóa; không sót lại một ai, trừ dân cùng đinh trong xứ. Vua đày vua Giơ-hô-gia-khin sang Ba-by-lon; vua đày mẹ vua này, các cung phi, các thái giám và phú hào trong xứ, từ Giê-ru-sa-lem sang Ba-by-lon. Tất cả những người có thế giá, bảy ngàn người, thợ rèn và thợ làm khóa, một ngàn người, và tất cả các binh lính cũng bị vua đày sang Ba-by-lon.

Xem thêm: Chantal Reynier, chuyển ngữ Thiên Hựu, Xuân Hùng, Để Đọc Các Ngôn Sứ (HCM: Phương Đông, 2017), 185-186.

[11] The two great events of Judah's history during the years of Jeremiah's prophecy were the religious reform of Josiah (622 SCE), and the destruction of Jerusalem and Judah (587 BCE) and the exile of many of its leaders and citizens (597 and 587 BCE).

The New Interpreter’s Bible Commentary, Volume IV (Nashville: Abingdon Press, 2015), 565.

[12] - Sắp xếp theo Jerome, 190.

- Sắp xếp theo Nguyễn Ngọc Rao, Tìm Hiểu Các Sách Ngôn S, 40-47.

Thế kỷ VIII (A-mốt, Hô-sê, Mi-kha, I-sai-a I (1-39); Thế kỷ VIII-VI: Trước lưu đày (Xô-phô-ni-a, Na-khum, Kha-ba-cúc, Giê-rê-mi-a); Thời lưu đày 597-538 (Ê-dê-ki-en, I-sai-a II 40-55); Thời Ba Tư (538-332): Hồi hương, tái thiết Đền Thờ (Khác-gai, Da-ca-ri-a, I-sai-a III (56-66), Ma-la-khi; Thời Hy Lạp 332 (Đa-ni-en).

[13] Mark J. Boda and J. Gordon McConville, Dictionary of the Old Testament Prophets (USA: IVP Academic, 2012), 76.

[14] “Dựa theo chính tác phẩm mang tên Giê-rê-mi-a, ta cũng biết về thân thế và sự nghiệp của ông là một ngôn sứ vĩ đại, chứ không phải là vô danh, tiểu tốt. Không quá khi nói, để hiểu ngôn sứ trong Cựu ước là ai, thì không thể nào không nghiên cứu sách Giê-rê-mi-a, vì có nhiều điểm thật đặc biệt: ơn gọi của Giê-rê-mi-a; vai trò phát ngôn viên của Thiên Chúa; uy quyền được trao phó; cách thức Giê-rê-mi-a đưa ra để phân biệt ngôn sứ thật và giả… 40 năm thi hành sứ vụ ngôn sứ của Giê-rê-mi-a (627-587) cũng có thể so sánh ngang bằng với Môi-sê cũng làm ngôn sứ 40 năm.”

x. Nguyễn Văn Hội, Giêrêmia (HCM, HVCG, 2025), 28-29.

[15] Chương I xuất hiện 3 lần cụm từ: “Có lời Đức Chúa phán với tôi(וַיְהִי דְבַר־יְהוָה אֵלַי לֵאמֹר) (c. 4.11.13). Nếu dựa vào cụm từ này, và dựa vào phân chia đoạn văn (  ׃ פ), người ta có thể chia thành 3 hồi: Gr 1,4-10; 11-12; 13-19. Tuy nhiên, khi đọc kỹ bản văn, chúng ta sẽ thấy có sự khác biệt: câu 13: “lại” có lời Đức Chúa phán với tôi”, rõ ràng là quy về thị kiến lần thứ nhất trong câu 11-12, nên giữa câu 13tt và câu 11-12 có liên hệ chặt chẽ. Hơn nữa, câu 11-12 và 13tt đều nói về thị kiến, nên cùng là một thể văn, không nên tách rời. Do vậy, nhìn thoáng qua, Gr 1,4-19 có thể chia làm hai phần:

Từ câu 4 -10: xoay quanh Lời

Từ câu 11-19: xoanh quanh 2 thị kiến.

Tuy nhiên, từ câu 17, vị ngôn sứ được Thiên Chúa gọi ở ngôi thứ 2 “còn ngươi”, điều này tạo ra sự gián đoạn. Và về nội dung, trong các câu 17-19, Thiên Chúa khích lệ Giê-rê-mi-a và nhắc lại điều Ngài đã nói ở câu 7-10. Như thế, các câu 17-19 kết thúc trình thuật ơn gọi và có vai trò đóng khung. Thị kiến của Giê-rê-mi-a là trung tâm của bản văn ơn gọi, và ta có thể chia đoạn văn như sau:

Câu 4-10: Thiên Chúa kêu gọi Giê-rê-mi-a

Câu 11-16: Thị kiến

Câu 17-19: Thiên Chúa khích lệ Giê-rê-mi-a

x. Nguyễn Văn Hội, Giêrêmia (HCM, HVCG, 2025), 42.

[16] Biblia Hebraica Stuttgartensia.

[17] Syntactic and Morphological Analysis of Jr 1,11-12

  וַיְהִי דְבַר־יְהוָה אֵלַי לֵאמֹר מָה־אַתָּה רֹאֶה יִרְמְיָהוּ וָאֹמַר מַקֵּל שָׁקֵד אֲנִי רֹאֶה׃

 (Jer. 1:11 WTT)

וַיְהִי”, וְ particle conjunction; היה verb qal waw consec imperfect 3rd person masculine singular apocopated. Chuyển ngữ có nghĩa: và có/ và trở nên.

דְבַר־יְהוָה”, דָּבָר noun common masculine singular construct; יהוה noun proper no gender no number no state. Chuyển ngữ có nghĩa: lời của Đức Chúa.

אֵלַי”, אֶל particle preposition suffix 1st person common singular. Chuyển ngữ có nghĩa: tới tôi.

לֵאמֹר”, לְ particle preposition; אמר verb qal infinitive construct homonym 1. Chuyển ngữ có nghĩa: nói hướng tới.

מָה־אַתָּה”, מָה pronoun interrogative no gender no number; אַתָּה pronoun independent 2nd person masculine singular. Chuyển ngữ có nghĩa: ngươi…gì?

רֹאֶה”, ראה verb qal participle masculine singular absolute. Chuyển ngữ có nghĩa: điều được thấy.

יִרְמְיָהוּ”, יִרְמְיָהוּ noun proper no gender no number no state. Chuyển ngữ có nghĩa: Giê-rê-mi-a.

וָאֹמַר”, וְ particle conjunction; אמר verb qal waw consec imperfect 1st person common singular homonym 1. Chuyển ngữ có nghĩa: và tôi nói/ thưa.

מַקֵּל”, מַקֵּל noun common masculine singular construct. Chuyển ngữ có nghĩa: nhánh/ gậy.

שָׁקֵד”, שָׁקֵד noun common masculine singular absolute. Chuyển ngữ có nghĩa: Hạnh Đào.

אֲנִי”, אֲנִי pronoun independent 1st person common singular. Chuyển ngữ có nghĩa: tôi.

רֹאֶה”, ראה verb qal participle masculine singular absolute. Chuyển ngữ có nghĩa: điều đang thấy.

Dịch câu 11: Và có lời Đức Chúa nói với tôi: điều gì ngươi đang thấy, Giê-rê-mi-a? và tôi thưa điều được thấy: một nhánh cây Hạnh Đào.

  וַיֹּאמֶר יְהוָה אֵלַי הֵיטַבְתָּ לִרְאוֹת כִּי־שֹׁקֵד אֲנִי עַל־דְּבָרִי לַעֲשֹׂתוֹ׃ פ

 (Jer. 1:12 WTT)

וַיֹּאמֶר”, וְ particle conjunction; אמר verb qal waw consec imperfect 3rd person masculine singular homonym 1. Chuyển ngữ có nghĩa: và nói.

יְהוָה”, יהוה noun proper no gender no number no state. Chuyển ngữ có nghĩa: Đức Chúa.

אֵלַי”, אֶל particle preposition suffix 1st person common singular. Chuyển ngữ có nghĩa: với tôi.

הֵיטַבְתָּ”, יטב verb hiphil perfect 2nd person masculine singular. Chuyển ngữ có nghĩa: ngươi đã làm tốt/ đúng.

לִרְאוֹת”, לְ particle preposition   ראה verb qal infinitive construct. Chuyển ngữ có nghĩa: thấy.

כִּי־שֹׁקֵד”, כִּי particle conjunction homonym 2; שׁקד verb qal participle masculine singular absolute. Chuyển ngữ có nghĩa: bởi vì-người thức canh.

אֲנִי”, אֲנִי pronoun independent 1st person common singular. Chuyển ngữ có nghĩa: tôi.

עַל־דְּבָרִי”, עַל particle preposition homonym 2; דָּבָר noun common masculine singular construct suffix 1st person common singular. Chuyển ngữ có nghĩa: trên lời của ta.

לַעֲשֹׂתוֹ׃ פ”, לְ particle preposition; עשׂה verb qal infinitive construct suffix 3rd person masculine singular homonym 1. Chuyển ngữ có nghĩa: hướng tới để làm những lời đó.

Dịch câu 12: Và Đức Chúa nói với tôi: ngươi đã thấy đúng. Bởi vì ta đang canh thức trên những lời của ta để thực hiện (làm) những lời đó (τοῦ ποιῆσαι αὐτούς).

[18] Trong ngôn ngữ Hip-ri, dấu ngắc câu giúp phân tách một câu thành nhiều đoạn nhỏ (11a,11b...)

[19] Variation in the Masoretic mss makes it difficult to establish the number of occurrences exactly.

[20] The meaning of the name is unknown. Arguments favoring particular meanings have been for the most part grammatical. The name has long been thought to be a form of the verb hāwāy, an older form of the Hebrew verb hāyāh, to be. The reconstructed form yahwēh is parsed as either a third-person Qal imperfect of this verb or as the corresponding form of the causative stem.

[21] David Noel Freedman, The Anchor Bible Dictionary (New York: Doubleday, 1992), 9556-9557.

[22] David Noel Freedman, The Anchor Bible Dictionary (New York: Doubleday, 1992), 4289-4290.

[23] Theo nguồn J, Thiên Chúa được biết đến với danh xưng YHWH. Nó có lối sử dụng ngôn ngữ thẳng thắng cũng như trần tục để diễn tả sự tương tác giữa Thiên Chúa với con người. từ lâu, người ta tin rằng nguồn này được viết ở Giu-đa vào thế kỷ X-IX tCN.”

Phạm Quốc Tuấn, Tìm Hiểu Ngũ Thư (HCM: HVCG, 2024), 38.

[24] “Ngài là “storm god” vì Ngài nói trong tiếng sấm sét (Exod 19:16–19; 20:18; Ps 18:14; Job 37:5; Amos 1:2; Hab 3:11). Ngài là Chúa của các núi “god of the mountains” (Exodus 19; 1 Kgs 20:3). Lửa là dấu chỉ hiện diện của YHWH và vũ khí của Ngài (Exod 13:21; 1 Kgs 18:38). Ngài là Chúa của hoang mạc “god of the desert” (Judg 5:4). Ngài kiểm soát nước trên trái đất, biển khơi “the sea” (Exod 14:21; Jonah), sông ngòi “the rivers” (Josh 3:16–17), và mưa “the rain” (Gen 2:5; 1 Kings 17). Ngài cầm quyền sinh tử “giver of life and one who brings death”. Ngài là Chúa của chiến tranh và hoà bình “god of war and of peace”.”

David Noel Freedman, The Anchor Bible Dictionary (New York: Doubleday, 1992), 9558.

[25] “Yahweh created, maintains, and sustains the natural world, which includes humanity. There are covenants with Noah which include the natural world, with the patriarchs, with Moses and the people, Aaron and Phinehas and the priesthood, David and the royal house, and others. No matter what the origin of the name or the non - Israelite nature of his epithets, Yahweh had chosen Israel to be his people and had entered into covenants with them. This fact is the central theme of the OT.”

David Noel Freedman, The Anchor Bible Dictionary (New York: Doubleday, 1992), 9558.

[26] “J the characteristic that resulted in its name (Jehovist, Yahwist) is its use of the covenant name for God. E is identified by the use of the more generic name, Elohim. This source is dated about a century later than J”

Tremper Longman III and Raymond B. Dillard, An Introduction to the Old Testament (Grand Rapids, Michigan: Zondervan, 2006), 44.

[27] David Noel Freedman, 4289-4290.

[28] The verb dabar, "to speak" (almost always in the Piel, dibber), which appears 289 times (e.g., Is 1:2; Jer 1:16; Ezek 2:1; Dan 9:6; Hos 1:2; Joel 3:8; Amos 3:1; Obad 18; Jon 3:2; Mic 4:4; Hab 2:1; Zech 1:9), and the related noun dābār, "word," which appears 448 times (e.g., Is 1:10; Jer 1:2; Ezek 1:3; Dan 9:2; Hos 1:1; Joel 1:1; Amos 3:1; Jon 1:1; Mic 1:1; Hab 1:1; Zeph 1:1; Zech 1:1; Mal 1:1).

Mark J. Boda and J. Gordon McConville, Dictionary of the Old Testament Prophets (USA: IVP Academic, 2012), 860.

[29] Thomas Lambdin, Introduction to Biblical Hebrew (New York: Scribner’s, 1971), XXII-XXIII.

[30]The verb 'amar, "to say," is ubiquitous in the Prophetic Books, with 1,411 occurrences. While 'amar is also used for human speech (e.g., Is 2:3; Jer 1:6; Ezek 2:4), God is the primary subject of the verb, and it appears in contexts of divine speech in all sixteen of the Prophetic Books (Is 1:11; Jer 1:4; Ezek 2:1; Dan 8:13; Hos 1:2; Joel 2:19; Amos 1:2; Obad 1; Jon 1:1; Mic 2:3; Nah 1:12; Hab 2:2; Zeph 3:7; Hag 1:1; Zech 1:1; Mal 1:2). The two noun forms associated with this verb only appear a few times. The noun 'emer, "speech, word," appears only once to clearly indicate divine speech (Is 41:26; Hab 3:9 is unclear). The noun 'imra, "speech" or "word," appears three times when God speaks (Is 5:24; 28:23; 32:9) and once when Jerusalem speaks (Is 29:4).”

Mark J. Boda and J. Gordon McConville, Dictionary of the Old Testament Prophets (USA: IVP Academic, 2012), 860.

[31] Thomas Lambdin, Introduction to Biblical Hebrew (New York: Scribner’s, 1971), XXII-XXIII.

[32] Đây là một số đoạn văn tiêu biểu về thị kiến “מַרְאָה ”:

Ngày xưa, tại Ít-ra-en, khi người nào đi thỉnh ý ĐỨC CHÚA thì nói thế này: “Nào chúng ta đến với thầy thị kiến”, vì “ngôn sứ” ngày nay thì ngày xưa gọi là “thầy thị kiến”.” (1Sm 9,9).

“Bên bờ sông Cơ-va, thì trời mở ra và tôi nhìn thấy thị kiến Thiên Chúa cho xem.” (Ed 1,1)

[33] Mark J. Boda and J. Gordon McConville, Dictionary of the Old Testament Prophets (USA: IVP Academic, 2012), 819.

[34] Ibid, 819.

[35] Ibid, 73.818.

[36] Nguyễn Văn Hội, Giêrêmia (HCM, HVCG, 2025), 61.

[37] Brad Haugard, Biblical Names and their Meanings (Hitchcock's New and Complete Analysis of the Holy Bible, 1800s)

[38] Jeremiah was destined to the office of prophet before his birth; cf Isaiah 49:1, 5; Luke 1:15; Gal 1:15, 16. I knew you: I loved you and chose you. I dedicated you: I set you apart to be a prophet. Some Fathers and later theologians understand this to mean that Jeremiah was freed from original sin before his birth.

I am too young: Jeremiah's youth (he was less than thirty years old) must not be an obstacle to the responsibilities of the prophetic office; God will supply for his human defects (cf Jeremiah 1:7, 8).

NAB, Foot note 3.4 of Chapter 1.

[39] Nguyễn Văn Hội, 6.

[40] The New Interpreter’s Bible Commentary, Volume IV (Nashville: Abingdon Press, 2015), 565.

[41] “Jeremiah is the largest of the three so-called Major Prophets in the Hebrew Scriptures. In our present canon the book is placed second after Isaiah and before Ezekiel. The Talmud, however, preserves an older (pre-Masoretic) order in which Jeremiah is first immediately following Kings (B. Bat. 14b–15a). In the Talmud, notice is made of the duplicate accounts at the end of Kings and Jeremiah, and it assumes that both books derive from the same author, who is Jeremiah the prophet.”

David Noel Freedman, The Anchor Bible Dictionary (New York: Doubleday, 1992), 4274.

[42] The influence of Jeremiah was greater after his death than before. The exiled community read and meditated on the lessons of the prophet, and his influence can be seen in Ezekiel, certain of the psalms, and the second part of Isaiah. Shortly after the exile, the Book of Jeremiah as we have it today was published in a final edition.

NAB, Introduction.

[43] Strong.s Exhaustive Concordance (Hendrickson Publishers).

[44] Lytton John Musselman, A Dictionary of Bible Plants (USA: Cambridge University Press, 2012), 17-18

[45] The watching-tree: the almond tree, which is the first to blossom in the springtime as though it had not slept. The Hebrew name contains a play on words with "I am watching."

[46] David Noel Freedman, The Anchor Bible Dictionary (New York: Doubleday, 1992), 2907.

[47] Ông Ít-ra-en, cha họ, bảo: “Nếu vậy thì các con cứ làm thế này: hãy đem trong bao bị một số đặc sản địa phương và đưa xuống làm quà cho ông ấy: ít nhũ hương, ít mật ong, nhựa thơm và mộc dược, đào lạc và hạnh nhân.

[48] Lytton John Musselman, A Dictionary of Bible Plants (USA: Cambridge University Press, 2012), 17-18.

[49] Xem thêm Xh 37,19-20.

[50] David Noel Freedman, The Anchor Bible Dictionary (New York: Doubleday, 1992), 123.

[51] Đối chiếu với các bản dịch khác:

Bản dịch của Nhóm GKPV: Có lời ĐỨC CHÚA phán với tôi rằng: “Giê-rê-mi-a, ngươi thấy gì?” Tôi thưa: “Tôi thấy một nhánh “cây canh thức”.” ĐỨC CHÚA liền phán với tôi: “Ngươi thấy đúng, vì Ta đang canh thức để thi hành lời Ta.”

Bản dịch LXX: καὶ ἐγένετο λόγος κυρίου πρός με λέγων τί σὺ ὁρᾷς Ιερεμια καὶ εἶπα βακτηρίαν καρυΐνην. καὶ εἶπεν κύριος πρός με καλῶς ἑώρακας διότι ἐγρήγορα ἐγὼ ἐπὶ τοὺς λόγους μου τοῦ ποιῆσαι αὐτούς.

Bản dịch Vulgata: Et factum est verbum Domini ad me dicens quid tu vides Hieremia et dixi virgam vigilantem ego video. Et dixit Dominus ad me bene vidisti quia vigilabo ego super verbo meo ut faciam illud.

Bản dịch NAB: Then the LORD said to me: The word of the LORD came to me: What do you see, Jeremiah? "I see a branch of the almond tree," I replied. You have seen well, for I am watching over my word to carry it out.

Bản dịch BFC: Alors je reçus cette parole du Seigneur: «Qu'aperçois-tu Jérémie?» - «Une branche d'amandier, l'arbre vigilant», répondis-je. «Bien vu, me dit le Seigneur; je serai vigilant, en effet, pour réaliser ce que j'annoncerai.»

[52] Holladay, Hebrew and Aramaic Lexicon of the OT, 382.

[53] Participle masculine singular absolute.