Ra đời vào thế kỷ thứ VI, Tu luật của
thánh Biển Đức dần ảnh hưởng đến đời sống của toàn châu Âu bởi sự lớn mạnh của
tu trào đan tu Biển Đức trong suốt nhiều thế kỷ sau đó. Một trong những lý do
khiến bộ Tu luật này có sức ảnh hưởng lớn chính là nhờ tinh thần quân bình của
nó. Bài viết này tập trung làm sáng tỏ tinh thần quân bình ấy.
Thánh Biển Đức khởi sự tu trào đan tu Biển
Đức tại Monte Cassino vào năm 530, mở đường cho sự lớn mạnh và lan rộng khắp
lãnh thổ châu Âu với việc hàng ngàn đan viện mới được thiết lập trong suốt chiều
dài lịch sử linh đạo. Biết trước được những khó khăn mà các đan sĩ sau này phải
đối diện khi trung thành với linh đạo đan tu, bằng những kinh nghiệm thiêng
liêng tích luỹ được trong suốt hành trình phụng sự Chúa, vào cuối đời, thánh Biển
Đức đã viết bộ Tu luật thời danh, hay còn được gọi là Luật Đan sĩ, để hướng
dẫn các đan sĩ đi đúng con đường mà thánh nhân đã vạch ra. Với lối sống đặc thù
của đời chiêm niệm, các đan sĩ sống trong một môi trường dường như khép kín,
nơi hằng ngày họ cầu nguyện, lao động và sống đời cộng tu huynh đệ trong thinh
lặng. Do đó, cần thiết phải có một sự quân bình trong cả tư tưởng và hành động
để giúp các đan sĩ có thể tìm thấy được bình an trong từng ngày sống của mình.
Tu luật của thánh Biển Đức chính là kim chỉ nam để có thể đạt được sự quân bình
ấy.
Thứ nhất, Tu luật Biển Đức đã nêu rõ tinh
thần của thánh sáng lập về một đời sống quân bình trong việc cầu nguyện. Trái với
những suy nghĩ thông thường về đời chiêm niệm, rằng các đan sĩ dường như phải cầu
nguyện lâu giờ, liên lỉ, đọc hết kinh này đến kinh khác để có sự sốt sắng,
thánh Biển Đức nhận thấy điều ấy không hẳn phù hợp cho đường thiêng liêng.
Thánh nhân quy định rõ, “lời cầu nguyện phải ngắn gọn và tinh tuyền, trừ khi
được ơn Chúa thúc đẩy mà kéo dài thêm, […], trong cộng đoàn, kinh nguyện phải vắn
tắt” (TL[1]
20,4-5). Ngoài ra, ý thức được tầm quan trọng của các giờ kinh, thánh Biển Đức
mong muốn các môn đệ của mình phải bỏ ngay những dụng cụ lao động đang cầm trong
tay để có thể đến tham dự giờ kinh khi nghe chuông báo (x. TL 43,1). Tuy nhiên,
để tránh tình trạng đan sĩ phải mang tâm thế vội vã, mất bình an, mà tuỳ vào hoàn
cảnh như nơi làm việc xa nhà nguyện, hay như tính cấp thiết của công việc,
thánh nhân cho phép các đan sĩ “lấy lòng kính sợ Chúa mà quỳ xuống tại nơi
làm việc để cử hành phụng vụ giờ kinh” (TL 50,3). Cũng thế, tuy có vẻ khắt
khe trong việc quy định những kinh cần đọc trong các giờ phụng vụ, thánh Biển Đức
vẫn dành cho bề trên đặc quyền được tuỳ ý định đoạt sao cho phù hợp với hoàn cảnh
của cộng đoàn (x. TL 11,6).
Thứ hai, tinh thần quân bình cũng được tìm
thấy trong những giáo huấn của thánh Biển Đức về việc lao động tay chân trong
đan viện. Có thể thấy rõ điều này qua việc thánh nhân không miễn trừ cho ai việc
lao động chân tay, bởi vì ngài quan niệm rằng “ở nhưng là thù địch của linh
hồn” (TL 48,1). Ngài quy định: “Không ai được miễn trừ công tác làm bếp”
(TL 35,1). Ngoài ra, trong những công việc tay chân nặng nhọc khác, thánh Biển
Đức luôn quan tâm đến việc xét định công việc để phù hợp với thể trạng của mỗi
người. Ngài khuyên nhủ các đan sĩ rằng không nên ham chuộng lao động quá mức,
nhưng “trong mọi sự phải giữ chừng mực, vì còn có những anh em yếu sức”
(TL 48,9). Kế đến, để tránh tình trạng những anh em thạo nghề trở nên kiêu
căng, tự mãn, thánh nhân quy định rằng “nếu ai trong họ kiêu căng, cậy mình
biết nghề, tưởng mình làm lợi cho đan viện, người ấy sẽ bị ngưng việc, không được
làm nữa, trừ khi đã khiêm tốn và viện phụ bảo làm lại” (TL 57,2-3).
Cuối cùng, tinh thần quân bình cũng được
khắc hoạ một cách rõ nét trong Tu luật thánh Biển Đức về đời sống huynh đệ
trong cộng đoàn đan viện. Thật vậy, thánh Biển Đức tuy đã thiết định một nếp sống
trật tự và quy củ trong đời đan tu, nhưng ngài vẫn cho viện phụ quyền được
thích ứng với hoàn cảnh của địa phương mà điều hành đan viện trong các việc phụng
vụ, sinh hoạt, học tập (x. TL 11,6; 22,1; 24,1; 25,5). Tuy nhiên, điều đó không
có nghĩa viện phụ có thể làm mọi việc tuỳ ý, vì chính ngài sẽ chịu tra vấn của
Chúa trong ngày phán xét (x. TL 2,6), và “khi khuyên người khác tu sửa, thì
chính ngài cũng phải biết tự sửa mình” (TL 2,40). Mặc dù nhìn bề ngoài, đời
đan tu có vẻ khắc khổ và được quy định nghiêm ngặt, nhưng thánh Biển Đức vẫn
duy trì một sự quân bình trong nếp sống ấy. Có thể xét thấy điều ấy trong những
ví dụ sau đây. Về việc cấp phát nhu yếu phẩm, thánh Biển Đức quy định mỗi người
sẽ được cấp phát theo nhu cầu (x. TL 34,1). Trong suốt cuộc đời tại đan viện
đan sĩ phải kiêng thịt, nhưng thánh Biển Đức vẫn cho phép những anh em đau ốm
được dùng thịt để mau bình phục (x. TL 36,9). Trong mùa Chay, sợ rằng anh em đọc
sách nhà cơm có thể mệt mỏi vì đã giữ chay rước lễ, thánh Biển Đức cho phép họ
được ăn chút gì đó trước khi đọc sách (x. TL 38,9). Cũng thế, phân lượng thức
ăn là tuỳ vào nhu cầu của mỗi người (x. TL 40,1-3; 40,5) và giờ giấc bữa ăn có
thể linh động thay đổi (x. TL 41,4). Việc cấp phát y phục cũng tuỳ vào thời tiết
tại địa phương mà phân lượng (x. TL 55,1-2). Tinh thần quân bình còn được thể
hiện qua việc sắp xếp thứ tự trong đan viện từ ngày vào dòng, rước lễ, chỗ ngồi
trong ca toà và nhà cơm (x. TL 63,4) hầu có thể đem lại trật tự và bình an
trong đan viện.
Như thế, bên cạnh những đặc nét nổi bật
như việc thánh Biển Đức dùng ngôn ngữ bình dân để viết Tu luật, nền tảng của Tu
luật được xây dựng vững chắc trên Kinh Thánh, sự thân tình trong ngôn ngữ như một
người cha, tinh thần quân bình có thể được xem như một điểm son của Tu luật
thánh Biến Đức. Chính nhờ sự quân bình ấy mà ngoài việc các đan sĩ được đào luyện
một cách bài bản từ ngoài thể xác lẫn trong tâm hồn, Tu luật của thánh Biển Đức
còn có sức lan toả rộng khắp bởi giá trị của tinh thần quân bình ấy luôn mang
tính thực tiễn, phù hợp với mọi nơi và mọi thời.
Tóm lại, Tu luật thánh Biển Đức đã thành
công trong việc lưu truyền những giá trị tinh tuyền của linh đạo đan tu chiêm
niệm, và xét trên nhiều khía cạnh, bản luật này, tuy được viết từ rất lâu,
nhưng vẫn còn phù hợp với con người ngày nay. Tất cả là bởi chính tinh thần
quân bình được thánh Biển Đức hun đúc trong từng chương, từng câu của Tu luật. Và
với tinh thần quân bình ấy, Tu luật Biển Đức vẫn sẽ còn phù hợp để đồng hành với
các môn sinh trong linh đạo đan tu chiêm niệm với phương châm “Cầu nguyện và
Lao động” trong thời đại kỹ thuật số này.


