CHIỀU KÍCH VŨ TRỤ NƠI THÁNH THỂ | Thư viện Học viện Công giáo Việt Nam

CHIỀU KÍCH VŨ TRỤ NƠI THÁNH THỂ




G.B. Nguyễn Văn Cường STL-K3


Dẫn nhập

Trong suy tư về Thánh Thể, các nhà thần học đã áp dụng Thánh Thể trong nhiều chiều kích khác nhau, điều đó không nằm trong hệ tại của sự phong phú nơi trí năng của con người khi liên hệ bí tích Thánh Thể với các chiều kích trong xã hội cũng như trong đời sống đức tin. Nhưng bí tích Thánh Thể bao gồm tất cả các lĩnh vực suy tư của đời sống con người. Thánh Thể không dừng lại nơi sự hiểu biết của trí năng hay cảm nếm nơi tôn giáo mà còn vươn tới trong những thực tại tối hậu của con người. Từ niềm tin tôn giáo đến những phát minh của con người trong cái nhìn chiều sâu đều liên hệ trong Thánh Thể. Vì thế, Thánh Thể mang chiều kích vũ trụ.

Thần học về bí tích Thánh Thể được suy tư từ rất sớm. Ngay từ thời các thánh Tông đồ, việc suy tư về Thánh Thể đã được thực hiện, kế đến là các thánh Giáo phụ và tiếp nối là các thần học gia…Và như thế, dòng chảy suy tư về bí tích Thánh Thể không bị gián đoạn nhưng luôn được tiếp diễn. Thánh Thể được Giáo hội suy tư trong niềm tín thác theo các mô phạm khác nhau; ví như đi từ chiều kích tương quan giữa Thánh Thể với Ba Ngôi, Thánh Thể trong chiều kích cứu độ, hay tương quan bền chặt giữa Thánh Thể và Giáo Hội...và rất nhiều mối tương quan khác trong dòng chảy suy tư thần học về Thánh Thể.

Trong bài viết này, chúng ta cùng tìm hiểu mối liên hệ giữa Thánh Thể và vũ trụ. Thánh Thể không chỉ là chiều kích thánh thiêng, nhưng còn là nơi gặp gỡ của vũ trụ-con người và Thiên Chúa (mục 1)... Mặt khác, qua bí tích Thánh Thể, vũ trụ được “thần linh hóa” nhờ Đấng Phục Sinh (mục 2). Và sau cùng, Thánh Thể sẽ dẫn đưa vũ trụ về lại với nguồn gốc ban sơ và được hưởng nếm trước bàn tiệc cánh chung (mục 3). Cho nên, Thánh Thể và vũ trụ không còn là hai thực tại “xa lạ” nhưng trở nên gần gũi và khăng khít với nhau. Vì Đấng sinh ra từ cung lòng Chúa Cha, là cội nguồn của vạn vật, nay lại cư ngụ trong vũ trụ và thánh hóa vũ trụ này mà dâng cho Thiên Chúa Cha; Đấng ấy chính là Đức Ki-tô phục sinh.

1. Thánh Thể: Giao hòa Con người-Vũ trụ-Ba Ngôi

Thánh thể là chóp đỉnh của đời sống Giáo hội[1]. Cử hành Thánh Thể không đơn thuần là một bữa ăn hồi tưởng quá khứ, nhớ lại kỷ niệm chia ly của Chúa Giê-su đối với các môn đệ. Nhưng Bữa Tối sau cùng, Đức Giê-su chính là Đấng Ki-tô, Đấng đã đổ Máu Người ra để thiết lập một Giao Ước Mới. Sau khi bẻ bánh và trao cho các môn đệ, Người cầm lấy chén, đọc lời chúc tụng tạ ơn và nói: “Các con hãy cầm lấy mà uống, này là chén máu ta, máu của Giao Ước (Mt 14,24)- “Đây là chén Giao Ước Mới trong máu Ta...Hãy làm việc này mà nhớ đến Ta” (Lc 22,19). Như vậy, Đức Giê-su không chỉ muốn cộng đoàn tín hữu tưởng nhớ đến Người mà còn làm cho Thánh Thể trở thành một cuộc tưởng niệm, một cuộc cử hành trong lịch sử Hy Tế Vượt Qua của Người. Vì thế, cử hành Thánh Thể để tưởng niệm mầu nhiệm vượt qua của Đức Giê-su Ki-tô là trung thành vâng theo lệnh truyền của Người.

Trong cuộc cử hành đó, Cộng Đoàn Tín Hữu tề tựu bên nhau cùng dâng lời chúc tụng, tạ ơn Thiên Chúa. Lễ vật không thể thiếu chính là Bánh và Rượu. Đây chính là những tặng phẩm của thiên nhiên. Chính Đức Giê-su đã dùng những tặng phẩm này như là biểu tượng để thiết lập một Giao Ước Mới. Bánh và Rượu là của hư nát, sản phẩm từ thiên nhiên và có giới hạn nhưng được trở nên Mình và Máu Thánh, của ăn linh thiêng nuôi sống muôn người.

Những chương đầu của sách Sáng Thế ký tường thuật lại việc Thiên Chúa sáng tạo muôn loài qua Lời (x.St 1,1-28), và Thiên Chúa trao ban sự sống của Người cho các thụ tạo. Giờ đây, chính Ngôi Lời lại dâng tất cả về cho Thiên Chúa. Thánh Thể chính là điểm qui kết mà Đức Giê-su hiến dâng cả vũ trụ cho Thiên Chúa. Nơi đây thiên nhiên, con người và Thiên Chúa hòa quyện với nhau. Chính nơi này, muôn thụ tạo được hiệp thông với Ba Ngôi; là nơi Thiên Chúa và nhân loại giao hòa với nhau, là nơi đất thấp gặp gỡ trời cao; là nơi đưa tình yêu cứu độ thấm nhập toàn thể thụ tạo[2]. Đó là một cuộc vận hành liên tục xoáy quanh “trục chính” là Thánh Thể.

Trong Tông Huấn “Sacramentum Caritatis”, Đức thánh cha Biển Đức XVI nhấn mạnh đến trách nhiệm “thánh hóa thế giới, bảo vệ vũ trụ”, và ước mong những con người tạ ơn nhờ Thánh Thể phải có ý thức cử hành Thánh Thể nhân danh toàn thể vũ trụ[3]. Vì vạn vật trong vũ trụ đều xuất phát từ một cội nguồn. Tất cả đều sống, hiện hữu, chuyển động và tồn tại trong Thiên Chúa. Nhờ bí tích Thánh Thể toàn thể vũ trụ được hòa quyện lại với nhau, tiến dâng cho Chúa cả vũ trụ.

Bánh Miến, Rượu Nho tưởng chừng là hình ảnh phản ánh sự giới hạn và chóng qua nhưng nó được trở nên Mình Máu thánh Chúa. Nó không còn là của ăn giải quyết cơn đói tạm thời nhưng trở nên Thần Lương đời đời cho nhân loại. Cho nên trong Đức Ki-tô, nhờ sự biến đổi của Chúa Thánh Thần, những tặng phẩm thiên nhiên trở nên phương thế cứu độ cho cả vũ hoàn. Vì thế, Thánh Thể là nghi thức cử hành mang tính toàn vẹn của cả vũ trụ. Từ của ăn tầm thường thuộc hạ giới nay trở nên của ăn siêu nhiên thượng giới, trở nên chính Mình và Máu của Đấng mang lại ơn cứu độ cho cả vũ trụ.

Như vậy, Thánh Thể không có nghĩa chỉ là bữa ăn riêng của Đức Giê-su và các môn đệ, nhưng Thánh Thể chứa đựng cả vũ trụ. Dựa vào đâu để khẳng định Thánh Thể chứa đựng cả vũ trụ? Khi Tư tế đọc lời truyền phép trên bánh và rượu, nhờ sự biến đổi của Chúa Thánh Thần, trở nên Mình và Máu Chúa Ki-tô, Đấng mà thánh sử Gioan đã khẳng định “từ khởi thủy đã có Ngôi Lời... Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành” (Ga 1,1-3). Chính Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ qua Lời, và giờ đây tấm bánh, chén rượu trở nên Mình và máu của Đức Ki-tô (Ngôi Lời). Từ đó giúp chúng ta cảm nghiệm sâu xa tình liên đới mật thiết giữa muôn thụ tạo với Ba Ngôi Thiên Chúa. Giờ đây, nhờ bí tích Thánh Thể, vũ trụ hữu hạn không còn là những thứ vô hồn, đáng bị nguyền rủa nhưng trở nên khí cụ trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Riêng con người, từ những thụ tạo giới hạn, đáng bị chết nay được liên kết trong thần tính của Con Thiên Chúa. Vũ trụ không còn tách rời khỏi Thiên Chúa nhưng trở nên Thân Mình Chúa Ki-tô. Và trong mô hình Thánh Thể, thế giới này như Thân Mình của Đức Ki-tô, mọi thụ tạo đều là “sự tự biểu hiện của Thiên Chúa, một lời Chúa, một dấu chỉ của Thiên Chúa Ba Ngôi, một cách hiện diện thần linh”[4].

Trong lúc cử hành Thánh Thể, bánh và rượu là những yếu tố không thể thiếu. Một Tấm Bánh và một Chén Rượu chẳng làm cho con người no say trong cảm giác thể lý, nhưng sâu xa hơn nó chứa đựng cả vũ trụ. Bánh và Rượu là tặng phẩm Thiên Chúa tặng ban cho con người, mặt khác đó cũng là sản phẩm do công sức con người làm ra. Để hình thành nên Tấm Bánh, Chén Rượu phải trải qua nhiều công đoạn. Từ việc tái tạo đất, gieo trồng, chăm sóc cho tới việc thu hoạch, chế biến và thành phẩm là cả một giai đoạn hết sức vất vả và kỳ công. Bên cạnh đó còn có yếu tố thời tiết nắng mưa, cũng như văn hóa của mỗi vùng miền...tất cả được chứa đựng trong tấm bánh nhỏ bé thơm nồng và chén rượu nồng nàn. Tấm bánh, chén rượu tuy nhỏ bé nhưng không thiếu thứ gì trên vũ trụ này; nay được tiến dâng cho Thiên Chúa. Nơi đây là sự gặp gỡ đất-trời, như thánh Irene đã nói: “Thánh Thể là dấu chỉ khả giác được cấu thành do hai yếu tố: một thuộc về đất, một thuộc về trời”[5]

Vì thế, Tấm Bánh và Chén Rượu không còn đơn thuần là chính nó nhưng là một “bản giao hưởng” liên kết vạn vật dâng lên Ba Ngôi và được giao hòa với Thiên Chúa qua Đức Ki-tô. Cho nên, mọi sự được mời gọi chia sẻ tình yêu và sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su. Vì vậy, Thánh Thể không chỉ là cuộc tưởng nhớ bữa ăn sau cùng của Đức Giê-su với các môn đệ theo quan niệm của Anh em Cải Cách, nhưng Thánh Thể là phương dược Thiên Chúa cứu rỗi nhân loại qua Đức Ki-tô.

2. Thánh Thể: Phương dược Thiên Chúa cứu rỗi nhân loại

Nếu cử hành Thánh Thể với mục đích hoài niệm bữa tiệc chia ly giữa Đức Giê-su và các môn đệ thì chẳng có gì đá động tới con người qua mọi thời. Nhưng không, Giáo hội xác quyết Thánh Thể là chóp đỉnh của đời sống Giáo hội, là “linh hồn” của Giáo hội. Vì thế, khi cử hành Thánh Thể, Cộng Đoàn Tín Hữu không chỉ nhớ lại những lời Đức Giê-su tuyên bố, lập lại những hành động Người đã thực hiện, nhưng tưởng nhớ thực sự là cử hành “bữa ăn của Chúa” như một biến cố “bây giờ và ở đây” trong cấu trúc vừa “làm việc này mà nhớ đến” Người, vừa “loan truyền” cái chết của Người cho tới ngày Người ngự đến trong vinh quang (1Cr 11,22-26).

a. “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”

Đặc tính cốt yếu của việc cử hành Thánh Thể là thi hành mệnh lệnh cuối cùng của Chúa Giê-su: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Kiểu nói “hãy làm mà nhớ” gợi lên cho chúng ta chiều kích sống động của việc tưởng niệm trong Kinh Thánh. Trong bối cảnh của Kinh Thánh, một nghi lễ tưởng niệm chính thức, ví như lễ Vượt Qua, vừa là dịp để Cộng Đoàn phụng vụ “nhớ về” những kỳ công mà Thiên Chúa đã thực hiện trong dòng lịch sử Cứu Độ, nhưng đồng thời cũng là nghi thức để “nhớ đến” tình thương của Người vẫn luôn tồn tại hầu đem lại một viễn cảnh mới. Như vậy, cử hành một nghi lễ mang trong mình ba chiều kích: nhớ về quá khứ, hiện thực hóa hiện tại và hướng về tương lai.

Vì thế, cử hành Thánh Thể không chỉ nhớ lại tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người trong quá khứ, nhưng tình yêu đó còn được cụ thể hóa ngay giây phút hiện tại và sinh hoa trái trong giây phút hiện tại. Chính vì thế, việc tưởng nhớ Đức Ki-tô trong Thánh Thể diễn ra như một biến cố mang cùng một ý nghĩa tích cực, sống động với thời khắc của ơn cứu độ. Thiên Chúa và con người không còn là hai thực tại xa vời, không thể dung hòa với nhau. Nhưng hai thực tại tưởng chừng xa vời và không thể dung hòa ấy nay được đan quyện lại với nhau nơi Thánh Thể. Vì Thánh Thể chính là nơi hội ngộ đích thực giữa Thiên Chúa và con người ngay trong hiện tại.

Dù cuộc cử hành chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc ngắn ngủi trong thời gian nhưng là một biến cố nói lên tất cả ý nghĩa của nguồn sống thần linh tuôn tràn giữa lòng đời. Từ một khoảnh khắc xảy ra trong thời gian, mang tính hữu hạn được “mặc lấy” tính vô hạn, vì Đức Ki-tô là Đấng “vượt trên thời gian”. Hơn nữa, “hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” còn là ân ban được thông phần và Mình và Máu Đức Ki-tô, để tưởng nhớ tình yêu tự hiến của Người, một tình yêu thâm sâu, trọn vẹn nhất được biểu lộ trên cây khổ giá. Bên cạnh đó “nhớ đến Thầy” còn là lời mời gọi trông đợi Người đến trong tương lai.

Như thế, dấu chỉ Bữa Ăn cũng hướng đến hai tương lai: tương lai gần khi biến cố cứu độ được thực hiện qua cuộc thương khó của Đức Giê-su, và tương lai xa là cuộc Thương Khó ấy được hoàn tất với sự Phục sinh của Người, và do đó biến cố mang ơn cứu độ cho muôn thế hệ. Vì thế, việc tưởng nhớ nơi bí tích Thánh Thể là nhớ đến tình yêu Thiên Chúa thực hiện nơi Đức Ki-tô, mà tình yêu ấy không chỉ thể hiện trong quá khứ nhưng còn biểu lộ nơi hiện tại[6].

b. “Loan truyền Chúa đã chịu chết”

Một trong những chiều kích không thể không nhắc đến khi cử hành Hy lễ Tạ Ơn chính là việc “loan truyền Chúa đã chịu chết”. Một trong những kinh nguyện Thánh Thể xưa nhất mà ngày nay còn được giữ lại nói rõ: “Hồi tưởng lại cái chết và sự sống lại của Đức Ki-tô, chúng con dâng lên Chúa tấm bánh và chén rượu này để tạ ơn Người...”[7]. Điều này muốn khẳng định, Cộng Đoàn Tín Hữu ngay từ sơ khai đã xác tín về mầu nhiệm Thập Giá và Phục Sinh của Đức Ki-tô chính là nguồn mạch cao điểm của lịch sử con người. Mà nguồn mạch đó được hiện thực hóa ngay tại thời điểm cử hành Thánh Thể.

Thật vậy, khi cử hành Thánh Thể, Cộng Đoàn Tín Hữu xác tín về Đức Ki-tô, Đấng chuyển đạt ơn cứu độ cho muôn người bằng tình yêu tự hạ của Người, làm thành một Hy Lễ vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Ai đón nhận Đức Ki-tô Thánh Thể đồng nghĩa cùng bước đi với Người trên con đường thập giá. Con đường thập giá là con đường đau khổ nhưng không phải là con đường chết chóc dành cho kẻ thất bại. Trái lại, đây là con đường của tình yêu, con đường của sự sống. Vì bước đi trên con đường này chính là được tham dự vào sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì cuộc Vượt Qua này diễn tả một hành vi yêu thương tuyệt đối, một cử chỉ phó thác hoàn toàn nơi Chúa Cha khi hiến tế đời mình cho Thiên Chúa Cha[8].

Nếu vì một người (A-đam) mà tội lội đã ngập tràn toàn thể vũ trụ, và tất cả vũ trụ đều đã bị liên lụy nơi con người đầu tiên ấy; thì cũng từ một Con Người (Đức Giê-su) mà tội lỗi được tẩy rửa và muôn loài được thâu nạp dâng lên Thiên Chúa, để Người thánh hóa và được cứu. Nếu cây giữa vườn dẫn con người tới chỗ chết thì nhờ cây thập giá mà con người được trở lại tình trạng thánh thiện nguyên thủy. Nếu A-đam là người chia rẽ nhân loại, thì Người Con Một của Thiên Chúa là Đức Giê-su Ki-tô bỗng trở thành Người “để thâu hợp con cái Thiên Chúa tản mác về lại làm một”[9]. Vì thế, thập giá không còn là sự phân tán hay kết án nhưng là điểm thâu nạp và cứu vớt mọi thụ tạo.

Thật vậy, bỏ qua chiều kích thương khó và sự chết của Đức Ki-tô là hủy bỏ ý nghĩa cốt lõi của Thánh Thể, làm mất đi hiệu quả của ơn cứu độ; cũng như mất đi căn tính và bản chất của người tín hữu vì, “Đức Ki-tô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2Cr 5,15). Do đó, việc loan truyền sự chết của Chúa Giê-su không phải là kiểu loan báo vô thưởng vô phạt nhưng mang một ý nghĩa giải thoát. Vì khi cử hành lễ Bẻ Bánh, tất cả đều được liên kết với Thân Mình của Đức Ki-tô, Đấng thông ban sự sống cho toàn thể nhân loại. Thánh giáo hoàng Gioan-Phaolo II nhấn mạnh về sự lan tỏa của Thánh Thể tới mọi thụ tạo:

“Người Con Một của Thiên Chúa đã trở thành người phàm để cứu rỗi toàn thể tạo vật, qua hành động kính tôn cao cả, dâng lên Thiên Chúa Cha, Đấng Như Không, Vô Hình. Người chính là vị Thượng Tế muôn đời, đã đổ máu ra nơi cây thập tự giá để cho con người có được một sự sống vĩnh cửu, để con người biết cảm tạ Đấng Tạo Dựng ra mình và Thiên Chúa Cha, để tất cả cùng được cứu rỗi”[10].

Trong phần dẫn nhập thứ hai trong mùa Giáng sinh nói về Chúa Ki-tô như sau: “Ngài đã đến để chính mình nâng lấy tất cả mọi tạo vật, khôi phục lại sự đoàn kết, và dẫn đưa nhân loại từ giai đoạn khổ sai để đến được vương quốc của Thiên Chúa Cha trên nước thiên đàng”.

Vì thế, việc bẻ bánh cũng như uống một chén trong cuộc tưởng niệm Thánh Thể là tất cả mọi người được liên hệ cách sâu sắc với Đức Ki-tô trong mầu nhiệm Vượt Qua. Nếu như Đức Ki-tô đã dâng mình làm Hy Tế như một Đấng chịu đóng đinh vì yêu thương nhân loại, thì mỗi lần cử hành cuộc tưởng niệm Thánh Thể là các tín hữu dự phần vào mầu nhiệm thập giá, nghĩa là bước vào con đường tình yêu, mà tình yêu phải dâng hiến cách trọn vẹn qua việc đi đến cái chết để lãnh nhận ơn tái sinh. Vì "Đức Ki-tô là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo. Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ Máu Người đổ ra trên thập giá Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,15.19-20).

Vì thế, cử hành Thánh Thể không gì khác là hiện thực hóa Hy Tế Calve, nơi mà Con Thiên Chúa thâu nạp toàn thể vũ trụ dâng lên Thiên Chúa Cha, để tất cả vũ trụ cùng hợp xưởng cất cao lời tán tụng, tri ân và cảm tạ Thiên Chúa qua Đức Ki-tô nhờ Chúa Thánh Thần.

c. “Tuyên xưng việc Chúa sống lại”

Nếu cử hành Thánh Thể chỉ dừng lại nơi chiều lích Hy Tế thập giá thì tự Thánh Thể không trọn vẹn. Và để Thánh Thể trở nên nguồn ơn cứu độ trọn vẹn không thể không nói đến chiều kích Phục sinh. Nói cách khác, mầu nhiệm Thập Giá và Phục Sinh không thể tách rời nhau, vì hai khía cạnh của một thực tại liên kết với nhau như “hình với bóng”. Vì thế, cử hành Thánh Thể là “loan báo việc Chúa chịu chết” thì liền sau đó là “tuyên xưng việc Chúa sống lại”. Vì chính Đức Ki-tô chịu đóng đinh đã tiêu diệt sự chết và biểu dương sự sống mới, khai lối mở đường đưa mọi thụ tạo đến tương lai. Và như thế, mỗi lần cử hành Thánh Thể, Cộng Đoàn Ki-tô hữu vừa chia sẻ Bữa Tiệc của Chúa vừa loan truyền việc Chúa chịu chết cho tới “ngày Chúa đến” (1Cr 11,26).

Cho nên, sự phục sinh của Đức Ki-tô là một minh chứng về sự chiến thắng tội lỗi, giải thoát con người khỏi bóng tối sự chết mang lại niềm hy vọng cho muôn thụ tạo. Nếu thập giá là nơi Đức Giê-su thâu nạp cả vũ hoàn để dâng lên Thiên Chúa Cha nhờ người thánh hóa, thì sự phục sinh của Đức Ki-tô mang lại sự sống mới và dẫn đưa muôn thụ tạo vào bàn tiệc Nước Trời. Vì thế, khi cử hành Thánh Thể, “bánh và rượu được biến đổi thành thân mình Đức Ki-tô Phục Sinh, chúng vẫn còn là những yếu tố nội tại trong thế giới này”[11]. Cho nên, tấm bánh chén rượu khi cử hành được biến đổi nhờ Đấng đã sống lại từ cõi chết, để muôn thụ tạo nhờ được liên kết với Đức Ki-tô, cả vũ trụ cũng được thừa hưởng sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa. Giáo phục Justino coi ngày Phục sinh của Đức Ki-tô là một cuộc sáng tạo vũ trụ từ bóng tối: “Chúng tôi gặp nhau vào mỗi ngày mặt trời, vì đó là ngày thứ nhất, Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ từ bóng tối, và cũng là ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng tôi, đã sống lại từ cõi chết”[12]. Vì thế, Đấng phục sinh có quyền tuyệt đối trên muôn thụ tạo. Từ những yếu tố thuộc về vũ trụ, tự nó mang trong mình sự giới hạn, nay được Đấng Phục Sinh đi vào và biến đổi từ những vật hư nát thành của ăn linh thiêng nhờ việc “thần linh hóa”, để tất cả vụ trụ cũng được liên kết với Đấng Phục Sinh. Cho nên, Thánh Thể tự thân là bí tích của sự hiện diện của Đức Ki-tô Phục Sinh, và nhờ trung gian bánh và rượu Người đưa vào mình tất cả hoàn vũ để trở nên một Thân Mình duy nhất:

“Thật vậy, chính Đức Ki-tô muốn đưa và trong Thân Mình Phục Sinh của Người những yếu tố mà, đối với chúng ta, hình thành nên một thân xác phải chết. Vì thế mà Người chọn lấy những yếu tố trần gian, về mặt lịch sử thì đồng hóa với chúng ta trong thời gian như công trình văn hóa trên những yếu tố ấy, và làm cho chúng có thể đồng hóa cách cánh chung với Người nhờ sự thật về cuộc phục sinh của Người. Người ban cho yếu tố gồm hai phần thuộc trần gian này sức mạnh trở nên hiện hữu đối với chúng ta, ở đây và lúc này, những gì toàn thế giới sẽ trở thành và sẽ là, nhờ sức mạnh của vinh quang, vào lúc quang lâm[13].

3. Thánh Thể: Điểm qui tụ muôn loài trong bữa tiệc cánh chung.

Khi cử hành Thánh Thể, Cộng Đoàn Tín Hữu được liên kết với Đức Ki-tô không chỉ nơi biến cố tử nạn và phục sinh nhưng còn được biểu lộ và làm sáng tỏ chiều kích cánh chung. Bữa tiệc Thánh Thể “hôm nay” phản ánh Bữa Tiệc Thiên Quốc trên Nước Trời. Do đó, Thánh Thể cho thấy trước và hứa hẹn một Bữa Tiệc vĩnh cửu; Bữa Tiệc đó thúc đẩy thế giới hướng đến tương lai, ngày mà cả vũ hoàn được thông phần với Đức Ki-tô vinh hiển cách trọn vẹn. Chính Đức Ki-tô Phục Sinh sẽ biến đổi thế giới này trong vinh quang mai hậu của Người. Như vậy, Thánh Thể báo trước những gì xảy ra với toàn vũ trụ vào lúc tận thế. Vì thế, cử hành Thánh Thể là được tham dự trước Bàn Tiệc cánh chung. Martelet khẳng định:

“Thánh Thể mới được tham dự trước vào những gì cuộc quang lâm sẽ làm cho toàn thế giới khi biến đổi thế giới ấy bằng sự hủy diệt sự chết. Đó là cuộc quang lâm có tính bí tích: Cuộc quang lâm, vì có liên quan tới Thân Mình của sự Phục Sinh, nhưng là cuộc quang lâm có tính bí tích[14].

Bởi vậy, cử hành việc tưởng niệm ơn cứu độ trong Thánh Thể là hành vi đón nhận và xác nhận tình yêu tự hiến nơi Đức Ki-tô, tình yêu đó tác động trên những người tin, làm cho họ không ngừng vươn tới ngày viên mãn. Thông điệp Ecclesia de Eucharist khẳng định: “Chúng con đợi chờ Chúa trở lại trong vinh quang”. Bí Tích Thánh Thể là hướng đến điểm chung kết, tiền dự vào niềm vui sung mãn mà Chúa Kitô đã hứa (x. Ga 15,11). Bí Tích Thánh Thể, theo một nghĩa nào đó, là sự nếm trước hương vị thiên đàng “bảo đảm cho vinh quang sẽ tới”. Trong Bí Tích Thánh Thể, tất cả đều diễn tả sự đợi chờ đầy tin tưởng này: “Chúng tôi mong ước niềm hạnh phúc mà Chúa hứa và sự quang lâm của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ chúng tôi”[15]. Thánh Thể bảo đảm cho người tín hữu một tương lai chắc chắn. Mặt khác, những ai đón nhận Thánh Thể, “tâm hồn họ tràn đầy ân sủng”[16] và “không cần đợi chờ một thế giới bên kia để nhận lãnh sự sống đời đời, họ đã chiếm hữu nó ngay từ đời này, như hoa quả đầu mùa của sự sung mãn sẽ tới, liên hệ đến toàn thể con người”[17]. Do đó, Thánh Thể mang ý nghĩa cánh chung, hàm chứa mọi yếu tố của thiên nhiên và văn hóa, liên quan đến toàn thế giới tạo thành. Để đào sâu đặc tính cánh chung này, sách Giáo lý Công giáo cũng nhắc đến Bí tích Thánh Thể như là “sự báo trước của vinh quang trời cao” và là “dấu chỉ của niềm cậy trông vào Trời mới và Đất mới”.[18] Qua Bí tích Thánh Thể, toàn thể vũ trụ cùng thông dự trước vào sự hoàn tất của hồng ân cánh chung.

Cho nên, Thánh Thể là nơi mà Đức Ki-tô thâu nạp vũ trụ để dâng lên Thiên Chúa Cha. Tấm bánh và chén rượu là biểu tượng cho toàn thể vũ trụ. Ngay từ buổi sơ khai Thiên Chúa đã tặng ban cho nhân loại một vũ trụ “thật tốt đẹp” để con người được thừa hưởng và vũ trụ không ngừng phát triển nhằm biểu dương quyền năng của Thiên Chúa. Thì giờ đây, vũ trụ này được hoàn lại cho Thiên Chúa cũng phải “tinh tuyền và tốt đẹp” như buổi ban sơ. Và để làm được điều này đòi buộc con người lữ hành phải hành động, đó là trách nhiệm của chúng ta[19].

Như thế, mỗi lần cử hành Thánh Thể, Cộng Đoàn Tín Hữu không chỉ hồi tưởng lại quá khứ, mà còn sống biến cố Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Ki-tô ngay giây phút hiện tại. Hơn nữa, còn hướng đến niềm hy vọng cánh chung trong Nước Thiên Chúa cho toàn thế giới. Cho nên, cử hành Thánh Thể không còn là chuyện suy tư hay hưởng nếm cách riêng lẻ “cá nhân”. Như Tony Kelly nhận định: “Họ không đi vào sự suy gẫm riêng tư, hoặc gặp gỡ nhau để bàn luận triết lý về sự sống mai sau. Nhưng họ ăn uống, hưởng nếm, hít thở và chia sẻ sự hiện diện thật sự của một tương lai huy hoàng mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho họ trong Đức Kitô”.[20] Nói cách khác, khi cử hành Hy Lễ Tạ Ơn, chính Thánh Thể ôm trọn niềm hy vọng của con người trong mầu nhiệm Vượt Qua và đưa thế giới vào một cuộc tạo thành mới.

Kết luận

Chúng ta vừa đào sâu một vài điểm thần học về bí tích Thánh Thể trong chiều kích vũ trụ, để thấy được Thánh Thể không đơn thuần là nhớ lại một bữa ăn tiễn biệt, nhưng còn là nơi của sự gặp gỡ giữa: vũ trụ-con người-Thiên Chúa. Thánh Thể không dừng lại nơi chiều kích hoài niệm về quá khứ, như biến cố đã xảy ra mà không còn dính bén tới giây phút hiện tại. Trái lại, Thánh Thể diễn tả chiều kích sống động của Hy Tế Tạ Ơn trên đồi Golgotha ngay “bây giờ và tại lúc này”. Biến cố Vượt Qua giải thoát con người khỏi vũng lầy của tội lỗi và sự chết hầu ban cho vũ trụ một sự sống mới, sự sống vĩnh cửu. Hơn nữa, Thánh Thể dẫn đưa con người tham dự vào bàn tiệc Nước Trời trong ngày cánh chung, nơi mà “muôn loài ngong ngóng đợi chờ”.

Như thế, cử hành Thánh Thể không còn là chuyện riêng của một nhóm người nhưng là của toàn thể vũ trụ. Tấm bánh và chén rượu không còn là một thứ vô hồn nhưng nhờ được Thánh Thần của Đấng Phục Sinh biến đổi thành Thân Mình và Máu của Đức Ki-tô, Đấng đồng bản thể với Chúa Cha. Tấm bánh, chén rượu là hình ảnh của cả vũ trụ. Để có được tấm bánh, chén rượu phải trải qua một quá trình vất vả: từ việc gieo vãi, chăm sóc, cắt tỉa cho tới thu hoạch, chế biến và thành phẩm là quá trình đóng góp công lao vất vả của bao người. Vì thế, khi vị Tư Tế cầm lấy tấm bánh, chén rượu dâng lên đọc lời truyền phép không có nghĩa là chỉ dâng tấm bánh, chén rượu nhỏ bé nhưng là bản “hợp xướng” của muôn thụ tạo dâng lên Thiên Chúa Cha, Đấng đã dùng Lời để sáng tạo vũ trụ này và ban cho nhân loại vũ trụ tốt đẹp này. Về điểm này Justino cho rằng Thánh Thể là lời tạ ơn của vũ hoàn:

“Chúng ta nên tạ ơn Thiên Chúa vì công trình sáng tạo và muôn loài thụ tạo trong hoàn vũ. Chúng ta tạ ơn Thiên Chúa dã dựng nên vũ trụ và vạn vật vì loài người, cũng như giải thoát chúng ta khỏi mọi tội lỗi, để chúng ta được sinh ra trong đó. Bấy giờ người ta trao cho vị chủ tọa cộng đoàn bánh và một chén rượu pha ít nước. Ngài nhận lấy, rồi cất tiếng ca tụng và tôn vinh Cha vũ trụ nhờ danh của Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ngài cũng tạ ơn Thiên Chúa vì đã ban cho các tạo vật này...[21]

 Tấm bánh chén rượu là tinh hoa của thiên nhiên cùng với lao công vất vả của con người, hợp với Hy Tế Thập Giá của Đức Ki-tô dâng về cho Thiên Chúa Cha nhờ Thánh Thần thánh hóa. Cho nên, khi cử hành Thánh Thể không còn là chuyện của một cá nhân, một vùng miền thuộc một văn hóa nào đó riêng lẻ nhưng nơi đó là sự hiệp thông toàn thể vũ trụ được Đức Giê-su dâng về Chúa Cha. Thánh Irene khẳng định về sự hiệp nhất vũ hoàn nơi Thánh Thể:

“Như rễ cây cắm sâu vào lòng đất, mang lại nhiều hoa trái cho thời kỳ của nó; như hạt lúa được chôn vào lòng đất phải chết đi mới nảy mầm lớn lên, gia tăng thêm nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng gìn giữ tất cả trong sự hiệp nhất-được nối kết theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa để phục vụ loài người, chúng ta lãnh nhận lời của Chúa và trở thành Thánh Thể, Mình và Máu Chúa Ki-tô”[22]

Vì vậy, cử hành Thánh Thể mang chiều kích gặp gỡ; nơi đây con người-thiên nhiên và Thiên Chúa gặp gỡ nhau trong sự tán dương. Giờ đây và ngay lúc nay, Thiên Chúa và vũ trụ không còn “khoảng cách” nhưng trở nên gần gũi hơn bao giờ hết. Thiên Chúa, Đấng sáng tạo vũ trụ tốt đẹp và ban cho con người cai quản, nay qua bí tích Thánh Thể, Thiên Chúa ôm trọn tặng phẩm chính Người làm ra trong lời ca hân hoan của muôn thụ tạo.

Nhờ được tham dự vào mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Ki-tô, vũ trụ không còn là thực tại “lạc lối” nhưng trở nên một nhịp điệu hùng hồn trong trong “bản hòa tấu” đầy sức sống. Chính Chúa Ki-tô phục sinh đã tặng ban sức sống thần linh cho vũ trụ đã từng bị nguyền rủa. Ngài dùng Thánh Thần của Thiên Chúa để biến đổi vũ trụ, tưởng chừng đã chết, thành vũ trụ tràn đầy sức sống nhờ được “thần linh hóa”. Một vũ hoàn “khô héo”, thiếu sức sống do tội lỗi nay được tràn đầy nhựa sống nhờ Đấng đã chết trên cây thập giá. Do đó, khi cử hành Thánh Thể, Cộng Đoàn Tín Hữu được tham dự vào biến cố Golgotha ngay tại giây phút hiện tại. Cho nên, Thánh Thể hiện thực hóa giây phút Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Ki-tô ngay trên “bàn thờ vũ trụ”. Nơi đó, toàn thể vũ trụ cùng đồng thanh hát bài chúc tụng, tán dương, ngợi ca và cảm tạ Thiên Chúa. Vì thế, Thánh Thể mang lại cho vũ trụ một hình ảnh mới, đó là một cuộc tạo thành mới, một vũ hoàn tràn đầy sức sống thần thiêng.

Mặt khác, Thánh Thể còn dẫn đưa vũ trụ về với bến bờ vĩnh hằng. Trong niềm tin của Ki-tô giáo, cả hoàn vũ liên kết với nhau tạo thành một thực tại duy nhất, thực tại ấy vốn dĩ giới hạn nay được nâng lên thành thực tại siêu việt nhờ được liên kết trong Đức Ki-tô Phục Sinh. Người là viên mãn của thời gian, là trung tâm điểm, là sự sống và sự sáng của hoàn vũ, là Đấng mà thánh sử Gioan quả quyết “nhờ Người mà muôn vật được tạo thành” (Ga 1,3), và tất cả vạn vật được phát triển là do Người.

Tấm bánh chén rượu nhỏ bé nhưng là tinh hoa của vũ trụ và công lao của con người. Tất cả vũ trụ được gói gém trong những thứ nhỏ bé ấy, nay được Đấng Phục Sinh làm cho nó có giá trị to lớn trước mặt Thiên Chúa. Dâng lên Thiên Chúa cả vũ trụ phải là Hy Lễ tinh tuyền. Để có được một vũ hoàn tốt đẹp và tinh ròng đòi buộc mỗi người phải hành động trong ý thức thuận theo thánh ý của Thiên Chúa. Thiên Chúa trao trái đất cho con người coi sóc, giữ gìn, đồng nghĩa Thiên Chúa vẫn là chủ. Thế nhưng con người lầm tưởng và tự cho mình đặc quyền “làm chủ” trái đất để rồi con người hành xử với thiên nhiên theo ý riêng của con người. Chính quan niệm đó mà “ngôi nhà chung” của nhân loại ngày đêm rên xiết vì sự “bóc lột” bạo tàn của con người. Vì thế, để có được “của lễ” tinh tuyền dâng lên Thiên Chúa, đòi buộc con người phải hành động một cách thiết thực, bằng cách ra tay hành động để bảo vệ vũ trụ này, để trở nên xứng đáng là của lễ dâng lên Chúa Cha. Vì vậy, khi cử hành Thánh Thể, vũ trụ được “thần hóa” nhờ Đức Ki-tô phục sinh. Vũ trụ giờ đây không còn là nơi càn cỗi, thiếu sức sống, nhưng được “biến mình”, được “dâng lên” để đạt tới tầm vóc viên mãn là Đức Ki-tô”[23] (Ep 4,13). Cho nên, Thánh Thể là trung tâm của sự gặp gỡ giữa: vũ trụ-con người và Thiên Chúa. Cuộc gặp gỡ này trong một thực tại siêu việt đích thực vào thời cánh chung.


 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

v  TÀI LIỆU GIÁO HỘI

- Công Đồng Vaticano II. Bản dịch của Giáo hoàng Học viện Pi-ô X, 1972.

- Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo. Bản dịch của Nhóm dịch của Tổng Giáo phận Sài Gòn. Tp.HCM, Minh Khai: 1998.

- ĐGH Biển Đức XVI. Sacrametum Caritatis. Bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin, thuộc HĐGMVN.

- ĐGH Gioan Phaolo II, Tông Huấn về Phép Thánh Thể.

- //    //    //    //, Ecclesia de Eucharistia. Bản dịch của Giáo phận Mỹ Tho.

- ĐGH Phanxico. Laudato si. Bản dịch của Nguyễn VĂn Trinh, Hà Nội, Tôn Giáo: 2015.

v  SÁCH THAM KHẢO

- Justino. Apologica, 67.

- Irene, Adv. Hear., IV

- Denis Edwards. Jesus the Kingdom of God: An Ecological Theology. Homebush, N.S.W.: St Pauls: 1995.

- Gustave Martelet. The Risen Christ and the Eucahristic World. London, Collins: 1976.

- Tony Kelly.The Bread of God: Nurturing a Eucharistic Imagination. Liguori Publications: 2013.

 - Nguyễn Văn trinh. Bí Tích Thánh Thể.

 - Đỗ Xuân Vinh. Bí Tích Thánh Thể. ĐCV Giuse: 2016.

 - Đỗ Xuân Quế. Bí tích Thánh Thể.

 - Vũ Chí Hỷ SSS. Thánh Thể Bí Tích của Niềm Hy Vọng Cánh Chung Trong Tư Duy Hiện Đại. Bản dịch Nguyễn Đức Thông C.Ss.R (Tp.HCM, Phương Đông: 2014), tr.140.

v  TRANG MẠNG

 -Vũ Chí Hỷ SSS, www//vuihocthanhkinh.blogspot.com/2012/08/thanh-hy-le-ta-on-va-canh-vuc-moi-sinh.html. Cập nhật ngày 2.6.2020.



[1] x. Lumen Gentium, số 48.

[2] Vũ Chí Hỷ SSS, www//vuihocthanhkinh.blogspot.com/2012/08/thanh-hy-le-ta-on-va-canh-vuc-moi-sinh.html. Cập nhật ngày 2.6.2020.

[3] Tông huấn Sacrametum Caritatis, bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin, thuộc HĐGMVN, số 92.

[4] Denis Edwards. Jesus the Kingdom of God: An Ecological Theology. (Homebush, N.S.W.: St Pauls, 1995), p.130. Trích lại trong Vũ Chí Hỷ SSS. Thánh Thể: Bí Tích của Niềm Hy Vọng Cánh Chung trong Tư Duy Hiện Đại. Chuyển ngữ Nguyễn Đức Thông C.Ss.R (Tp.HCM, Phương Đông: 2014), tr.257.

[5] X. Irene, Adv. Hear., IV, 18,5. Trích lại trong Nguyễn Văn trinh. Bí Tích Thánh Thể. 248.

[6] Đỗ Xuân Vinh. Bí Tích Thánh Thể. ĐCV Giuse: 2016, tr. 15.

[7] Đỗ Xuân Quế. Bí tích Thánh Thể. tr. 153.

[8] Đỗ Xuân Quế O.P. Ibid, tr.154.

[9] Ga 11,52.

[10] Gioan Phaolo II, Tông Huấn về Phép Thánh Thể, số 8.

[11] Gustave Martelet. The Risen Christ and the Eucahristic World. (London, Collins: 1976), p.107.

[12] Justino. Apologica, 67.

[13] Gustave Martelet. Ibid, trích lại trong Vũ Chí Hỷ SSS. The Eucharist, Sacrament of the Escatological Hope in Contemporary Though. Australia, Melbourne: 2004. Bản dịch của Nguyễn Đức Thông C.Ss.R. Thánh Thể, Bí Tích của Niềm Hy Vọng Cánh Chung Trong Tư Duy Hiện Đại. (Tp.HCM, Phương Đông: 2014), tr.140.

[14] Gustave Martelet. Ibid, 141.

[15] Ecclesia de Eucharistia, số 18.

[16] Sacrosanctum Concilium, số 47.

[17] Ecclesia de Eucharistia, số 18.

[18] Sách Giáo Lý Công Giáo, số 1402, 1405

[19] X. Ecclesia de Eucharistia, số 20.

[20] Tony Kelly. The Bread of God: Nurturing a Eucharistic Imagination. Liguori Publications: 2013.p. 82

[21] Justino. Apologia, 65.

[22] Irene. Adv Haer 5:2

[23] Vũ Chí Hỷ SSS, www//vuihocthanhkinh.blogspot.com/2012/08/thanh-hy-le-ta-on-va-canh-vuc-moi-sinh.html. Cập nhật ngày 2.6.2020.

 

Thánh Thể

Labels:
Thư viện Học viện Công giáo Việt Nam