Đang khi nhìn vào xã hội xô bồ này, ai cũng dễ
nhìn thấy cái cảnh người ta chạy đi tìm đủ thứ, vùi mình trong phận người,
trong thú vui, trong công ăn việc làm, trong học hành…Người ta quên mình “là người”. Người ta cho rằng ý nghĩa
này hết sức bình thường, xưa như trái đất. Chính cái mà người ta coi quá ư tầm
thường lại là cái có tính cách quyết định sống còn của từng người khả dĩ đưa đến
hệ luận: biết hay không biết cách “làm người”. Từ thực trạng này cho phép ta đặt
vấn đề “đâu là ý nghĩa của ơn gọi ‘là người’?”Có
cần thiết phải ‘làm người’ không?” “Làm sao để ‘làm người’?” Vấn nạn được đặt
ra để tìm hiểu, suy tư và cảm nghiệm khả dĩ góp vào hành trình “thành nhân” của
người.
Ý thức ơn
gọi “là người”
Trong triết học, người ta sử dụng hạn từ esse hay to be để chỉ một thực tại hiện hữu phổ quát. Mọi vật đều có hiện hữu,
nhưng cấp độ hoàn bị của sự vật lệ thuộc vào mức độ chiếm hữu sự hiện hữu. Theo
đó, Thượng Đế là hiện hữu tuyệt đối, bởi nơi Thượng Đế yếu tính đồng hóa với hiện
hữu. Nghĩa là Ngài chiếm hữu trọn vẹn hiện hữu, còn con người là những hữu thể
vô cùng giới hạn bởi lẽ con người chỉ chiếm một phần hiện hữu mà thôi, hơn nữa
sự hiện hữu của con người không hề đồng nhất với yếu tính và bị giới hạn bởi yếu
tính người. Nhưng con người được chia sẻ hiện hữu với Nguồn Chân Lý. Do đó, hiện
hữu của con người được coi là ơn gọi, ơn gọi “là người”. Hiện hữu của con người
được đặt trong mối liên hệ với Thượng Đế.
Từ nền tảng con người được
chia sẻ một phần hiện hữu hoàn bị của Nguồn Chân Thiện Mỹ, nên con người trở
nên cao cả và vượt trổi hơn mọi loài. Cho nên sự cao cả của con người không hề
tự mình mà có. Con người phải nhờ đến một Nguyên Nhân Đệ Nhất, nguyên nhân của
mọi hiện hữu. Cái “là” của Người tự hữu
và vô biên vô tận, còn cái “là” của
con người nhờ Người mà có và quy hướng về Người.
Cái “là”
của con người có linh hồn và thân xác, vừa hữu hình vừa vô hình, vừa vật chất vừa
thiêng liêng. Cho nên, nơi con người, bản thể chính là ngôi vị. Ngôi vị làm cho
con người trở thành hữu thể hoàn hảo nhất trong vũ trụ. Bởi vì trong vũ trụ này
không có loài nào được gọi là ngôi vị, là bản thể có trí khôn. Chẳng vậy mà
Descartes cho rằng: “tôi suy tư nên tôi
hiện hữu”, nghĩa là nhờ trí khôn mà con người biết mình cao cả, có vị trí độc
tôn trong vũ trụ, khi được chia sẻ sự hoàn bị của hiện hữu, dù hiện hữu của con
người còn dang dở do yếu tính người.
Hơn nữa, con người còn là một bản thể cụ thể, rất
đặc thù. Không vật nào trong vũ trụ có thể lẫn lộn với con người được. Ngay cả
giữa anh em đồng loại cũng không thể nào có sự tương tự như một bản thể sao
chép được. Cái đó làm nên một bản thể toàn vẹn và cao cả. Vả lại chính nơi ngôi
vị của con người đã có sẵn hành vi tự do và trách nhiệm, lý trí và ý chí. Tất cả
những yếu tố này trở thành những yếu tố làm nên một hành vi nhân linh mà chỉ có
nơi con người. Nơi ngôi vị của con người có một yếu tố xã hội tính, để con người
có khả năng coi “tứ hải giai huynh đệ”.
Đặc biệt, một ngôi vị tự bản chất là ngôi vị tương quan, luôn quy hướng về Nguồn
Chân Lý như là nguyên nhân mục đích của nó vậy. Nghĩa là mọi hoạt động “sống, động và hiện hữu” của con người đều
sẵn có khả năng hướng về Người.
Ý thức sứ
mệnh “làm người”
Tất cả những điều nói trên như được trù liệu trong
bản tính để con người có khả năng quy hướng về hoạt động chính yếu là: yêu mến
Chân, Thiện, Mỹ và yêu thương người khác, đúng như Thomas Merton khẳng định: “sống
ở đời, không ai là ốc đảo”. Một hoạt động yêu mến nhưng nhắm tới hai đối tượng
để tiến tới đức ái hoàn hảo. Hiện hữu là hoạt động của cái “là”. Hiện hữu hoàn bị khi tiến tới đức ái hoàn hảo. Thế thì phải
chăng để nuôi dưỡng cái “là” cần phải
có một hoạt động? Hoạt động như thế nào?
Quả thật, con người đã “là người” nhưng muốn “làm
người” thì phải có hoạt động “tồn tâm dưỡng
tính”. Những gì là tiềm thể thì bất toàn. Chỉ có hiện thể mới hoàn bị. Hoạt
động hiện hữu là hiện thể. Hiện hữu tuyệt đối thì hiện thể cũng thuần túy. Thượng
Đế là hiện hữu tuyệt đối nên nơi Ngài có hiện thể thuần túy, cho nên con người cần
đánh thức cái “là” đang ngủ, đã được
phú bẩm là cao cả.
Triết lý Á Đông dạy con người đánh thức “là” bằng cách “tồn tâm dưỡng tính” hay “tu
tâm dưỡng tính”. “Tâm” là trung tâm của “là”,
là căn cốt của “là”. Có thể ví “tâm” như “bản tính” và “tính” như “hành động”. Theo đó, tâm là nguồn phát
sinh mọi hành động của “là”. Không ai
thấy “tâm” nhưng người ta có thể cảm
được nó qua “tính” tức hành động.
Trước hết, cần phải “tồn tâm”. Làm sao để “tâm”
trở thành “tứ vô lượng”. Tâm phải từ,
bi, hỷ, xả. Từ là hiền lành, là từ tốn. Tâm từ là lòng nhân từ, sự hiền lành và
khiêm nhường. Bi là thương xót, thương cảm. Tâm bi là lòng thương xót, lòng trắc
ẩn. Hỷ là vui vẻ. Tâm hỷ là lòng hân hoan, luôn vui vẻ lạc quan trước bể khổ cuộc
đời. Xả là buông bỏ, là không níu kéo. Tâm xả là lòng thanh thản nhờ từ bỏ những
vương lụy nơi lòng mình. Nếu mọi sự là vô thường thì việc níu kéo chút vô thường
vương đọng nơi tâm là khổ lụy. Xả cũng là tha. Tâm xả là sự tha thứ, không chấp
mê, không chấp người. Tứ vô lượng tâm giúp con người được thanh thoát, tự giác
ngộ và có khả năng giác tha (tức cứu mình và cứu người).
Đức Phật dạy người ta tồn tâm bằng thiền định.
Lão Tử dạy người ta “tồn tâm” bằng học
thuyết vô vi. Vô vi không phải là không hành động, nhưng hành động mà như không
hành động đến mức đứng trước sóng gió cuộc đời, người ta có thể bình thản “cỡi trâu đi vào rừng”. Nhưng trên hết,
tất cả những điều đó sẽ đạt được nhờ vào sức trợ lực của “TRỜI”. Không ai tự
mình làm được công việc “mài tâm” bằng Đấng là tác giả, căn nguyên của mọi loài
thụ tạo.
Với căn tính này, con người chỉ tìm thấy nơi Đấng
là nguồn chân, thiện, mỹ đã khẳng định rằng: “anh em hãy học với thầy vì thầy hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.
Chuẩn mực nơi Con Thiên Chúa được quy hết về Cha trên trời, Đấng hoàn thiện, rằng:
“anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em
trên trời là Đấng hoàn thiện” và “anh
em hãy nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ”. Như vậy sự hoàn thiện của
Thiên Chúa là lòng nhân từ. Đặc tính này chỉ có trọn vẹn nơi Thiên Chúa, nhưng
con người được dựng nên giống hình ảnh Ngài nên con người cần đánh thức sự hiền
lành và khiêm nhường nơi “tâm” mình.
“Là”
là gốc của con người. “Là” làm nên con người. Cho nên, việc ý thức và truy về gốc
sẽ giúp con người định hướng mình trong ơn gọi “là người” xây dựng trên nền tảng
sứ mệnh “làm” người. Để rồi với ý thức “là
người”, và sứ mạng “làm người”, con
người đứng giữa đất trời như cánh tay nối dài của Nguồn Chân, Thiện, Mỹ khả dĩ
làm cho “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.


