MỘT ÁNH NHÌN TRIẾT HỌC VỀ ƠN GỌI VÀ SỨ MỆNH TRONG HÀNH TRÌNH LÀM NGƯỜI | Thư viện Học viện Công giáo Việt Nam

MỘT ÁNH NHÌN TRIẾT HỌC VỀ ƠN GỌI VÀ SỨ MỆNH TRONG HÀNH TRÌNH LÀM NGƯỜI



  Piô Phan Văn Tình, omi

Đang khi nhìn vào xã hội xô bồ này, ai cũng dễ nhìn thấy cái cảnh người ta chạy đi tìm đủ thứ, vùi mình trong phận người, trong thú vui, trong công ăn việc làm, trong học hành…Người ta quên mình “là người”. Người ta cho rằng ý nghĩa này hết sức bình thường, xưa như trái đất. Chính cái mà người ta coi quá ư tầm thường lại là cái có tính cách quyết định sống còn của từng người khả dĩ đưa đến hệ luận: biết hay không biết cách “làm người”. Từ thực trạng này cho phép ta đặt vấn đề “đâu là ý nghĩa của ơn gọi ‘là người’?”Có cần thiết phải ‘làm người’ không?” “Làm sao để ‘làm người’?” Vấn nạn được đặt ra để tìm hiểu, suy tư và cảm nghiệm khả dĩ góp vào hành trình “thành nhân” của người.

Ý thức ơn gọi “là người”

Trong triết học, người ta sử dụng hạn từ esse hay to be để chỉ một thực tại hiện hữu phổ quát. Mọi vật đều có hiện hữu, nhưng cấp độ hoàn bị của sự vật lệ thuộc vào mức độ chiếm hữu sự hiện hữu. Theo đó, Thượng Đế là hiện hữu tuyệt đối, bởi nơi Thượng Đế yếu tính đồng hóa với hiện hữu. Nghĩa là Ngài chiếm hữu trọn vẹn hiện hữu, còn con người là những hữu thể vô cùng giới hạn bởi lẽ con người chỉ chiếm một phần hiện hữu mà thôi, hơn nữa sự hiện hữu của con người không hề đồng nhất với yếu tính và bị giới hạn bởi yếu tính người. Nhưng con người được chia sẻ hiện hữu với Nguồn Chân Lý. Do đó, hiện hữu của con người được coi là ơn gọi, ơn gọi “là người”. Hiện hữu của con người được đặt trong mối liên hệ với Thượng Đế.

Từ nền tảng con người được chia sẻ một phần hiện hữu hoàn bị của Nguồn Chân Thiện Mỹ, nên con người trở nên cao cả và vượt trổi hơn mọi loài. Cho nên sự cao cả của con người không hề tự mình mà có. Con người phải nhờ đến một Nguyên Nhân Đệ Nhất, nguyên nhân của mọi hiện hữu. Cái “là” của Người tự hữu và vô biên vô tận, còn cái “là” của con người nhờ Người mà có và quy hướng về Người.

Cái “là” của con người có linh hồn và thân xác, vừa hữu hình vừa vô hình, vừa vật chất vừa thiêng liêng. Cho nên, nơi con người, bản thể chính là ngôi vị. Ngôi vị làm cho con người trở thành hữu thể hoàn hảo nhất trong vũ trụ. Bởi vì trong vũ trụ này không có loài nào được gọi là ngôi vị, là bản thể có trí khôn. Chẳng vậy mà Descartes cho rằng: “tôi suy tư nên tôi hiện hữu”, nghĩa là nhờ trí khôn mà con người biết mình cao cả, có vị trí độc tôn trong vũ trụ, khi được chia sẻ sự hoàn bị của hiện hữu, dù hiện hữu của con người còn dang dở do yếu tính người.

Hơn nữa, con người còn là một bản thể cụ thể, rất đặc thù. Không vật nào trong vũ trụ có thể lẫn lộn với con người được. Ngay cả giữa anh em đồng loại cũng không thể nào có sự tương tự như một bản thể sao chép được. Cái đó làm nên một bản thể toàn vẹn và cao cả. Vả lại chính nơi ngôi vị của con người đã có sẵn hành vi tự do và trách nhiệm, lý trí và ý chí. Tất cả những yếu tố này trở thành những yếu tố làm nên một hành vi nhân linh mà chỉ có nơi con người. Nơi ngôi vị của con người có một yếu tố xã hội tính, để con người có khả năng coi “tứ hải giai huynh đệ”. Đặc biệt, một ngôi vị tự bản chất là ngôi vị tương quan, luôn quy hướng về Nguồn Chân Lý như là nguyên nhân mục đích của nó vậy. Nghĩa là mọi hoạt động “sống, động và hiện hữu” của con người đều sẵn có khả năng hướng về Người.

Ý thức sứ mệnh “làm người”

Tất cả những điều nói trên như được trù liệu trong bản tính để con người có khả năng quy hướng về hoạt động chính yếu là: yêu mến Chân, Thiện, Mỹ và yêu thương người khác, đúng như Thomas Merton khẳng định: “sống ở đời, không ai là ốc đảo”. Một hoạt động yêu mến nhưng nhắm tới hai đối tượng để tiến tới đức ái hoàn hảo. Hiện hữu là hoạt động của cái “là”. Hiện hữu hoàn bị khi tiến tới đức ái hoàn hảo. Thế thì phải chăng để nuôi dưỡng cái “là” cần phải có một hoạt động? Hoạt động như thế nào?

Quả thật, con người đã “là người” nhưng muốn “làm người” thì phải có hoạt động “tồn tâm dưỡng tính”. Những gì là tiềm thể thì bất toàn. Chỉ có hiện thể mới hoàn bị. Hoạt động hiện hữu là hiện thể. Hiện hữu tuyệt đối thì hiện thể cũng thuần túy. Thượng Đế là hiện hữu tuyệt đối nên nơi Ngài có hiện thể thuần túy, cho nên con người cần đánh thức cái “là” đang ngủ, đã được phú bẩm là cao cả.

Triết lý Á Đông dạy con người đánh thức “là” bằng cách “tồn tâm dưỡng tính” hay “tu tâm dưỡng tính”. “Tâm” là trung tâm của “là”, là căn cốt của “là”. Có thể ví “tâm” như “bản tính”“tính” như “hành động”. Theo đó, tâm là nguồn phát sinh mọi hành động của “là”. Không ai thấy “tâm” nhưng người ta có thể cảm được nó qua “tính” tức hành động.

Trước hết, cần phải “tồn tâm”. Làm sao để “tâm” trở thành “tứ vô lượng”. Tâm phải từ, bi, hỷ, xả. Từ là hiền lành, là từ tốn. Tâm từ là lòng nhân từ, sự hiền lành và khiêm nhường. Bi là thương xót, thương cảm. Tâm bi là lòng thương xót, lòng trắc ẩn. Hỷ là vui vẻ. Tâm hỷ là lòng hân hoan, luôn vui vẻ lạc quan trước bể khổ cuộc đời. Xả là buông bỏ, là không níu kéo. Tâm xả là lòng thanh thản nhờ từ bỏ những vương lụy nơi lòng mình. Nếu mọi sự là vô thường thì việc níu kéo chút vô thường vương đọng nơi tâm là khổ lụy. Xả cũng là tha. Tâm xả là sự tha thứ, không chấp mê, không chấp người. Tứ vô lượng tâm giúp con người được thanh thoát, tự giác ngộ và có khả năng giác tha (tức cứu mình và cứu người).

Đức Phật dạy người ta tồn tâm bằng thiền định. Lão Tử dạy người ta “tồn tâm” bằng học thuyết vô vi. Vô vi không phải là không hành động, nhưng hành động mà như không hành động đến mức đứng trước sóng gió cuộc đời, người ta có thể bình thản “cỡi trâu đi vào rừng”. Nhưng trên hết, tất cả những điều đó sẽ đạt được nhờ vào sức trợ lực của “TRỜI”. Không ai tự mình làm được công việc “mài tâm” bằng Đấng là tác giả, căn nguyên của mọi loài thụ tạo.

Với căn tính này, con người chỉ tìm thấy nơi Đấng là nguồn chân, thiện, mỹ đã khẳng định rằng: “anh em hãy học với thầy vì thầy hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Chuẩn mực nơi Con Thiên Chúa được quy hết về Cha trên trời, Đấng hoàn thiện, rằng: “anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”“anh em hãy nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ”. Như vậy sự hoàn thiện của Thiên Chúa là lòng nhân từ. Đặc tính này chỉ có trọn vẹn nơi Thiên Chúa, nhưng con người được dựng nên giống hình ảnh Ngài nên con người cần đánh thức sự hiền lành và khiêm nhường nơi “tâm” mình.

“Là” là gốc của con người. “Là” làm nên con người. Cho nên, việc ý thức và truy về gốc sẽ giúp con người định hướng mình trong ơn gọi “là người” xây dựng trên nền tảng sứ mệnh “làm” người. Để rồi với ý thức “là người”, và sứ mạng “làm người”, con người đứng giữa đất trời như cánh tay nối dài của Nguồn Chân, Thiện, Mỹ khả dĩ làm cho “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.


Triết học, Ơn gọi làm người

Labels:
Thư viện Học viện Công giáo Việt Nam