LẬP TRƯỜNG VÀ GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VỀ VIỆC TÔN TRỌNG SỰ SỐNG VÀ QUYỀN ĐƯỢC SỐNG CỦA CON NGƯỜI. PHẦN 1 - TÍNH THÁNH THIÊNG CỦA SỰ SỐNG
Lm
Phêrô Trần Mạnh Hùng, STD.
Chúa nhật, ngày 28 tháng 12 năm 2025, Giáo hội Công giáo trên toàn thế giới
đã long trọng mừng kính lễ Thánh gia và trong phần lời nguyện của các tín hữu
(hay còn gọi là lời nguyện giáo dân), tôi đã được đánh động rất mãnh liệt bởi lời
nguyện sau đây:
“Vì lòng tôn kính sâu xa đối với sự sống con người, từ giây phút thụ thai, qua mọi giai đoạn phát triển, cho đến cái chết tự nhiên, để mọi người đều được hưởng quyền sống.”
Đối
với tôi thì lời nguyện đơn sơ ấy lại mang một ý nghĩa sâu sắc và bao gồm các
giáo huấn quan trọng của Giáo hội Công giáo về việc tôn trọng và bảo vệ sự sống,
cũng như quyền được sống của mọi con người, từ khi được hình thành trong dạ mẹ,
ngay từ những giây phút đầu tiên, cho đến khi được sinh ra và lớn lên. Tất cả
các tiến tình về sự sống của con người, thể theo lập trường kiên vững và giáo
huấn của Giáo hội Công giáo, luôn luôn cần phải được bảo vệ, gìn giữ và bất khả
xâm phạm.
Được
đánh động bởi lời nguyện xin tha thiết dành cho lòng tôn kính đối với sự sống
con người trong thánh lễ mừng kính Thánh gia hôm qua, cho nên, tôi đã nảy sinh
ra ý định là mình sẽ cho đăng tải một loạt bài liên quan đến những gì mà Giáo hội
Công giáo đã từng đề cập trong các tài liệu chính thức của Giáo hội liên quan đến
việc tôn trọng sự sống và quyền bất khả xâm phạm đến sự sống, từ giây phút thụ
thai cho đến cái chết tự nhiên.[1] Điều này bao gồm
các giai đoạn phát triển của sự sống con người từ khi mới được tượng hình trong
lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay sang bên kia thế giới. Chính vì lý do này
mà lập trường của Giáo hội Công giáo luôn phản đối việc phá thai có chủ ý và việc
hợp pháp hóa vấn đề an tử và trợ tử, dù cho một số quốc gia trên thế giới đã
công nhận và cho phép thực hiện.
Sau
đây là những gì mà tôi muốn lần lược trình bày với quý vị độc giả qua các bài
viết liên tục trong thời gian tới.
I.
Tính thánh thiêng của sự sống
II.
Phẩm giá con người và quyền
bất khả xâm phạm
III.
Vấn đề phá thai
IV.
An tử và trợ tử
V.
Huấn quyền và giáo huấn Giáo
hội Công giáo
Ước
mong của tôi là qua loạt bài khảo cứu này sẽ giúp cho quý độc giả Công giáo am
tường và thấu triệt lập trường kiên vững của Giáo hội, dựa trên nền tảng truyền
thống luân lý của Giáo hội và dựa trên quan điểm của Thánh kinh về việc tôn trọng
sự sống con người.
Trước tiên, tôi xin phép được trình bày về tính thánh thiêng của sự sống theo quan điểm của Giáo hội Công giáo.
|
Dẫn
nhập 1.
Nguồn gốc về tính thánh thiêng của sự sống 2.
Quyền làm chủ và quyền quản lý 3.
Nguồn gốc nguyên tắc quyền làm chủ và quyền quản lý 4.
Ý nghĩa và chức năng của quyền làm chủ và quyền quản lý |
TÍNH
THÁNH THIÊNG CỦA SỰ SỐNG
Dẫn
nhập
“Tôi chỉ biết kính trọng tất cả những gì được gọi là sự
sống. Tôi không thể không thương cảm tất cả những gì được gọi là sự sống. Đó là
khởi đầu và là nền tảng của luân lý.” (Albert Schweizer, Kính Trọng
Sự Sống) [2]
Sự
sống thánh thiêng của con người là do Thiên Chúa ban tặng và phải được nuôi dưỡng,
bảo vệ. Hủy hoại mạng sống không phải là quyền của con người mà là đặc quyền của
Thiên Chúa.[3] Con người là quản lý của công trình
sáng tạo nên chỉ có quyền làm chủ hạn chế, và vì thế chỉ có tự do hạn chế về
sinh mạng của mình.[4] Mạng sống con người là một
“tài sản tín thác” (trust) chứ không phải là “tài sản sở hữu” (possession) thuộc
quyền kiểm soát hoàn toàn của ta.
Hầu
hết mọi người chúng ta đều tin rằng sự sống là điều thánh thiêng và chấp nhận
nguyên tắc về tính thánh thiêng của sự sống. Đôi khi “tính thánh thiêng của sự
sống” được diễn tả như “sự tôn trọng hoặc kính trọng sự sống,” “phẩm giá của sự
sống con người,” “giá trị của sự sống con người,” thậm chí “quyền được sống.”[5] Thế nhưng đâu là nguồn gốc của những nguyên tắc
này? Sau khi tìm hiểu xong những giải đáp cho câu hỏi này, ta sẽ sẵn sàng nêu một
câu hỏi nữa: “Tính thánh thiêng của sự sống” được sử dụng trong các quyết định
về luân lý như thế nào và trong việc xây dựng sự đồng tâm nhất trí về luân lý
ra sao?
1.
Nguồn gốc về tính thánh thiêng của sự sống
Tính
thánh thiêng của sự sống có nguồn gốc tôn giáo và cả nguồn gốc ngoài tôn giáo.[6] Đạo Công giáo và đạo Tin Lành đã đưa tính thánh
thiêng của sự sống lần ngược lên tới nguồn gốc là Thiên Chúa và đã mặc cho nó ý
nghĩa tôn giáo, dựa trên nhiều điểm giáo lý Kitô giáo như Thiên Chúa sáng tạo
vũ trụ, Thiên Chúa cứu chuộc, tính bất tử của linh hồn, v.v... Nhìn chung, Công
Giáo phân tích nguồn gốc sự sống rất giống với Tin Lành, cả hai đều nhấn mạnh rằng
Thiên Chúa là nguồn gốc và là chủ tể tối thượng của sự sống con người. Vì thế,
Joseph Fuchs khẳng định rằng: “Con người thuộc về Thiên Chúa cách trực tiếp và
chỉ thuộc về một mình Ngài mà thôi.” [7] Cũng thế,
James Gustafson xem thái độ tôn trọng sự sống là điều “được gợi lên, được củng
cố và được phong phú hóa” nhờ niềm tin rằng, Thiên Chúa là Đấng tác tạo sự sống,
duy trì sự sống và muốn sự sống được những điều thiện hảo.[8]
Norman
St. John-Stevas, người từng viết rất nhiều về tính thánh thiêng của sự sống
theo quan điểm Công giáo La-mã, đã nói rằng “sự tôn trọng mạng sống người khác
vì số phận đời đời của họ là yếu tính của giáo huấn Kitô giáo. Một khía cạnh
khác của giáo huấn Kitô giáo là sự nhấn mạnh thụ tạo tính của con người. Tuyệt
nhiên con người không có quyền làm chủ mạng sống và thân xác mình. Con người
không có quyền làm chủ nó mà chỉ giữ nó như tài sản tín thác dành cho những mục
đích của Thiên Chúa.”[9]
Cũng
bằng cái nhìn tôn giáo, Paul Ramsey nhấn mạnh rằng sự thánh thiêng của sự sống
không phải là những giá trị tốt đẹp mà con người gán cho sự sống, nhưng giá trị
tiên vàn của nó hệ tại ở mối liên hệ giữa sự sống với Thiên Chúa:
Ta
chỉ có thể thấu triệt được quan niệm về sự thánh thiêng của sự sống, một khi nhận
thức được rằng: Sự sống này được trao ban và bao bọc bằng sự thánh thiêng,
không nhất thiết hệ tại nơi con người; rằng phẩm giá cao quý nhất mà con người
có được là phẩm giá bất chuyển nhượng hay bất
khả nhượng (Tiếng Anh gọi là inalienable dignity) [10]... Phẩm giá của con người là sự trào
dâng từ Thiên Chúa khi Ngài tiếp xúc với con người, chứ không phải là sự hướng
vọng mong sẽ trở thành cái gì đó do khả năng của chính con người.[11]
Những
quan điểm tôn giáo này xem ra khẳng định rằng tính
thánh thiêng của sự sống và/hoặc giá trị của sự sống đã có sẵn nội tại nơi sự sống
của con người. Nó cũng không tùy thuộc vào sự đánh giá của người này
đối với người kia hay dựa vào thành tích của con người. Đúng ra, đó là vì tình
thương yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Richard Gula đã
diễn tả điều này một cách súc tích và rất đẹp như sau: Phẩm giá con người
là phẩm giá nội tại, không thể chuyển nhượng, không thể
thương lượng, không bắt nguồn từ thành tựu cá nhân hay phẩm chất xã hội, nhưng
từ chính tình yêu Thiên Chúa, Đấng tạo tác chúng ta theo hình ảnh Ngài (Kn
1:26-27).[12] Đây là nền tảng của quan điểm Công
Giáo về luân lý tính khách quan, các quyền cụ thể của con người và những luận cứ
luân lý trong giáo huấn của Giáo hội.[13] Vì thế,
tính thánh thiêng của sự sống, tức giá trị nơi con người, tức phẩm giá bất khả
nhượng,” là do Thiên Chúa ban cho.[14] Nhưng chỉ
những ai chấp nhận trọn vẹn lối diễn giải thần học cho niềm xác tín này, mới có
thể khẳng định rằng sự sống luôn luôn là một giá trị hay một phẩm giá được bảo
đảm, bởi vì cách thức duy nhất để sự sống thật sự hiện hữu là ở trong mối liên
hệ với Thiên Chúa hay còn gọi là “giao ước.”[15]
Mặc
dù nền tảng thần học cho tính thánh thiêng của sự sống, đòi hỏi mọi người phải
khẳng định Thiên Chúa là nguồn gốc của sự thánh thiêng này, nhưng Giáo hội Công
giáo thừa nhận rằng, rất có thể tính thánh thiêng của sự sống không được chấp
nhận nơi những người không cùng một niềm tin tôn giáo này. Để cổ vũ cho tính
thánh thiêng của sự sống trên những nền tảng ngoài tôn giáo, truyền thống luân
lý Công Giáo nại đến cảm nghiệm phổ quát về giá trị của sự sống vốn vẫn có
trong mọi con người. Nhà xã hội học Edward Shils đã suy tư
theo hướng này để bày tỏ rằng, tính thánh thiêng của sự sống không phải từ
ngoài sự sống mà đến, nhưng có trong cảm nghiệm về chính sự sống, “trong cảm
nghiệm nguyên căn rằng mình đang sống, trong nỗi lo sợ bị tiêu diệt, trong tâm
trạng kinh hoàng trước những can thiệp có mưu toan, trong cảm giác ghê rợn trước
hành vi hủy hoại mạng sống con người một cách trái tự nhiên, và trong niềm kinh
ngạc trước sức sống của mình và của đồng loại.” Ông gọi cảm nghiệm này là “siêu
hình học tôn giáo nguyên căn” hay “siêu hình học tự nhiên” về tính thánh thiêng
của sự sống.[16]
Cố
gắng tạo cho được tính vững chắc của những nguyên tắc đầu tiên luôn luôn là việc
khó khăn, và nỗ lực này có thể bị người ta phản đối, nhưng điều đáng kể trong
các cuộc tranh luận về việc cố ý phá thai và việc hợp pháp hoá an tử chủ động,
là ngày càng có nhiều người chấp nhận tính thánh thiêng của sự sống như là một
nguyên tắc tổng quát. Kitô giáo và siêu hình học tự nhiên dựa trên cảm nghiệm,
có thể có suy tư khác nhau về nguồn gốc tính thánh thiêng của sự sống, nhưng cả
hai bên đều nhất trí về giá trị của nó xét như nguyên tắc đầu tiên. Xét cho cùng,
hai bên nhất trí vì lý do rất thực tiễn. Chẳng hạn Edward Shils viết:
“Nếu
không có sự khẳng định ngày càng thêm phổ biến về tính thánh thiêng của sự sống,
được xem như nguyên tắc chỉ đạo cho đời sống xã hội thì chúng ta sẽ bị trôi dạt...
và nếu sự sống không được coi là thánh thiêng thì sẽ chẳng có gì là thánh
thiêng nữa.”[17]
Norman
St. John-Stevas thì diễn đạt như thế này:
“Một
khi người ta đặt ra những ngoại lệ, đối với nguyên tắc về tính thánh thiêng của
sự sống, thì toàn thể cơ cấu các quyền của con người sẽ bị băng hoại.”[18]
Cả
hai ông như muốn nói rằng: Nếu muốn các giá trị được tôn trọng thì chúng ta phải
mặc nhiên công nhận nguyên tắc tính thánh thiêng của sự sống. Đức Giáo hoàng
Gioan Phaolô II cũng ủng hộ quan điểm này khi ngài phát biểu: “Khi Thiên Chúa bị
quên lãng thì ý nghĩa của con người, phẩm giá của con người và các quyền của
con người cũng bị lãng quên. Con người trở nên phụ thuộc và chạy theo những sở
thích hưởng lạc và thực dụng.” [19]
Dưới
ánh sáng của những luận cứ này, tính thánh thiêng của sự sống có vẻ như là một
cơ sở có thể chấp nhận được, để hy vọng mai đây mọi người sẽ đồng tâm nhất trí
trên phương diện luân lý về các vấn đề sự sống và sự chết. Thế nhưng vẫn còn đó
một nguyên tắc mơ hồ cho rất nhiều khoản luật, nghĩa vụ và tình huống luân lý.
Ví dụ, James Gustafson nhận ra rằng bảo vệ niềm tôn trọng sự sống mà không đòi
hỏi rằng sự sống thể lý phải bất khả xâm phạm, thì có nghĩa là đặt những lựa chọn
luân lý vào con dốc trượt. Hơn nữa, bản thân lòng tôn trọng sự sống chưa đủ để
xác định hành động thích hợp, hầu cho ta biết chắc "sự tôn trọng" là
gì và sự sống của ai phải được bảo vệ.[20]
Tuy
ngày càng có thêm đông người chấp nhận nguyên tắc dựa trên tính thánh thiêng của
sự sống, nhưng nguyên tắc này vẫn chưa dẫn đến được sự đồng tâm nhất trí về những
nội dung của nó. Vậy thì tại sao ta cứ bám lấy nguyên tắc này nếu nó còn mơ hồ
như thế? Nó có chức năng gì trong cuộc thảo luận về an tử? David Callahan trả lời
như sau:
“Nguyên
tắc này diễn tả sự sẵn sàng đối xử ân cần với sự sống con người, sẵn sàng công
nhận phẩm giá của nó và sẵn sàng dấn thân phục vụ nó. Chức năng của các qui luật
là thực hiện và cụ thể hóa những hoạt động dấn thân này. Sau đó, những hoạt động
dấn thân, như được tóm lược trong nguyên tắc ấy, lại góp phần của mình là thẩm
định tính đúng đắn của các qui luật.”[21]
Nói
cách khác, nguyên tắc này có chức năng như các nguyên tắc mô thể trừu
tượng thường có trong luân lý học. Tự nó không cho chúng ta biết việc phải làm,
nhưng nó hoạt động như một tiêu chuẩn để đánh giá những tình huống cụ thể dựa
trên nguyên tắc chất thể, vốn luôn cố gắng cho ta biết phải làm gì.[22] Nói đích xác hơn, với tư cách là nguyên tắc mô
thể, “tính thánh thiêng của sự sống” vạch hướng cho chúng ta nâng cao chất lượng
sự sống con người, nó khiến chúng ta có khuynh hướng làm ra những luật lệ để bảo
vệ sự sống con người. Nó tạo ra thái độ có tác dụng nuôi dưỡng một xu hướng mạnh
mẽ ủng hộ sự sống con người. Ví dụ, trong cuộc thảo luận về việc phá thai hay vấn
đề an tử, một trong những qui tắc mô thể có trong nguyên tắc về tính thánh
thiêng của sự sống, là không ai được quyền tước đoạt mạng sống của người
khác cách bất công.[23] Nguyên tắc về tính
thánh thiêng của sự sống bắt ta phải tự vấn, liệu việc chấp hành qui tắc này sẽ
thay đổi được cuộc sống của con người hay không. Thế nhưng, diễn dịch luận lý học
cho thấy, nguyên tắc về tính thánh thiêng của sự sống vốn dĩ không làm ra những
luật lệ luân lý. Nó chỉ vạch cho ta thấy phương hướng công nhận và bảo vệ sự sống.[24]
Vậy,
dù được đặt trên nền tảng tôn giáo hay không, tính thánh thiêng của sự sống hiện
vẫn được bảo vệ chu đáo nhất, nhờ những nỗ lực của con người, nhằm thiết lập và
thực hiện các luật lệ bảo vệ và nuôi dưỡng sự sống.
2.
Quyền làm chủ và quyền quản lý
Có
liên hệ chặt chẽ và thường được xem xét cùng với nguyên tắc về tính thánh
thiêng của sự sống, là những nguyên tắc thần học, về quyền chủ tể của Thiên
Chúa và vai trò quản lý của con người. Niềm tin đối thần về quyền làm chủ của
Thiên Chúa và sự quản lý của con người, được gợi ra chủ yếu bởi những người chấp
nhận cái nhìn Kitô giáo về tính thánh thiêng và bất khả xâm phạm của sự
sống con người.[25] Đôi khi ta nghe lời kết tội
rằng, ai can thiệp để làm cho cái chết đến mau, hay ai đình chỉ điều trị để cho
bệnh nhân chết, tức là người đó “tiếm quyền Thiên Chúa.”[26] Lời
kết tội nhằm nhấn mạnh rằng, vì Thiên Chúa là Tác Giả của sự sống và sự chết,
nên thời điểm kết thúc sự sống thuộc về Thiên Chúa, không thuộc về chúng ta. Rất
bấp bênh lúc này là sự hiểu biết của con người về quyền làm chủ và quyền quản
lý. Ở phần này, chúng tôi sẽ bàn đến nguồn gốc, ý nghĩa và chức năng của những
nguyên tắc thần học này trong cuộc thảo luận về an tử.[27]
3.
Nguồn gốc nguyên tắc quyền làm chủ và quyền quản lý
Chiếm
vị trí trung tâm trong cả thần học Công giáo[28] và
thần học Tin Lành là niềm xác tín rằng: Thiên Chúa là Chúa của sự sống và sự chết.
Niềm xác tín này cũng là một cách khẳng định rằng: Giá trị tột đỉnh và tính
thánh thiêng của sự sống con người là do từ Thiên Chúa mà đến. Tuyên xưng Thiên
Chúa là Chúa của sự sống và sự chết, tức là khẳng định sự phân biệt nền tảng giữa
Tạo Hóa và thụ tạo, đồng thời khẳng định rằng với tư cách thụ tạo, con người nhờ
Thiên Chúa mới có được sự hiện hữu, giá trị và định mệnh tối hậu của mình. Những
khẳng định này, mặc nhiên nói rằng không ai được tự nhận có toàn quyền làm chủ
sinh mạng của mình và sinh mạng của người khác.[29]
Nguồn
gốc của những xác tín này, cũng nằm ở chính những giáo lý, đã đem đến cho ta
nguyên tắc về tính thánh thiêng của sự sống. Ví dụ, nhờ giáo lý trong đạo dạy về
con người mà Norman St. John-Stevas có thể phát biểu: “Tuyệt nhiên con người
không có quyền làm chủ mạng sống và thân xác mình. Con người không có quyền làm
chủ nó mà chỉ giữ nó như tài sản tín thác dành cho những mục đích của Thiên
Chúa.”[30] Tương tự, Bernard Häring từ niềm xác
tín cơ bản của mình đã nói lên rằng: Sự sống con người là tặng vật thiêng liêng
của Thiên Chúa, và khẳng định: “Sự sống được ký thác cho sự tự do và đồng trách
nhiệm của con người. Con người không phải là chủ nhân độc lập của sinh mạng
mình nhưng là người quản lý dưới quyền chủ tể của Thiên Chúa.”[31] Paul Ramsey, với chủ đề “alien dignity” nơi sự sống
con người, đã nhấn mạnh đến sự sống như là của cải Thiên Chúa cho chúng ta vay
mượn. Ông cho rằng: chúng ta phải tôn trọng sự sống của mình và sự sống của người
khác, không chỉ vì sự sống được đặt nền tảng nơi Thiên Chúa mà còn vì Thiên
Chúa đã ban cho chúng ta sự sống như một giá trị tín thác để sử dụng theo ý của
Ngài. Chúng ta phải bắt chước Thiên Chúa, Đấng đã luôn khẳng định và tuyệt đối
bảo vệ sự sống.[32]
4. Ý
nghĩa và chức năng của quyền làm chủ và quyền quản lý
Nguyên
tắc về quyền làm chủ và quyền quản lý, đã tìm được lối đi vào những cuộc tranh
luận nhờ những người tán thành luận cứ thứ ba của Thánh Tôma Aquinô chống lại
hành vi tự tử: Duy Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, có quyền chủ tể đối với sự sống và
sự chết. Về phương diện luân lý, việc hủy hoại sinh mạng con người không thuộc
quyền phán đoán tự do của con người (Tổng Luận Thần Học, II-II, q. 64,
a. 5). Con người chỉ có quyền sử dụng sự sống như “Tài Sản Tín Thác” (Trust)
hay như “Tặng Vật” (Gift) từ Thiên Chúa, chứ không có quyền làm chủ nó như “tài
sản sở hữu riêng” (personal possession). Vì thế, trách nhiệm của chúng ta đối với
sự sống là trách nhiệm của người quản lý. Quyền làm chủ tuyệt đối là quyền chỉ
dành riêng cho một mình Thiên Chúa.
Không
bao giờ được phép tự tử bởi lẽ sự sống là tặng vật của Thiên Chúa, Đấng duy nhất
có quyền giết chết và làm cho sống. Vì thế bất cứ ai tự hủy hoại sinh mạng của
mình là phạm tội chống lại Thiên Chúa chẳng khác nào kẻ giết chết nô lệ của người
khác thì phạm tội chống lại ông chủ của người nô lệ ấy, và cũng giống như kẻ phạm
tội tự phán quyết về một vấn đề mà không hề được ủy thác cho mình.[33]
Cũng trong bài viết
này, Thánh Tôma khẳng định rằng việc hủy hoại sinh mạng con người không
thuộc quyền phán đoán tự do của con người:
Con
người làm chủ chính mình vì được phú cho quyền tự do lựa chọn. Nhờ quyền lựa chọn
tự do này, con người tự do tùy nghi sử dụng những gì trên đời này thuộc quyền tự
do của mình. Thế nhưng việc chuyển từ đời này sang đời sau hạnh phúc hơn, lại
không nằm trong số những điều ấy, bởi vì việc chuyển đi khỏi đời này thuộc ý muốn
và quyền năng của Thiên Chúa.[34]
Theo luận cứ này, con
người chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền làm chủ sự sống mình. Sở
dĩ việc giết người bị nghiêm cấm vì đó là tiếm quyền và xâm phạm quyền Thiên
Chúa.
Truyền
thống luân lý Công Giáo xưa nay vẫn xem việc hủy hoại sinh mạng người vô tội là
“sự dữ nội tại”[35] do khuyết thẩm quyền, vì không
ai có quyền nhận mình là chủ của sự sống. Thomas J. O'Donnell diễn tả luận cứ
này của truyền thống Công Giáo bằng cách phân biệt quyền làm chủ “tuyệt đối” và
quyền làm chủ “hữu dụng.” Quyền làm chủ tuyệt đối là quyền đối với vận mệnh
cánh chung của con người; quyền làm chủ hữu dụng là quyền bị hạn chế bởi thẩm
quyền cao hơn của người khác. Trong sách giáo khoa đã hiệu đính của ông về đạo
đức sinh học, cuốn Medicine and Christian Morality (Y Khoa và Luân Lý
Kitô Giáo),[36] ông nói đến “đặc quyền”
(prerogative) thay vì “quyền làm chủ” (dominion) nhưng cũng tiến đến
cùng một kết luận, ấy là: về sinh mạng con người, chúng ta chỉ có quyền sử dụng
và có trách nhiệm của người quản lý. Quyền làm chủ tuyệt đối, hay đặc quyền, chỉ
dành riêng cho một mình Thiên Chúa mà thôi.[37]
Đến
nay vẫn chưa xác định được phương cách chính xác để áp dụng nguyên tắc về quyền
làm chủ của Thiên Chúa, vào những vấn đề liên quan đến hành vi can thiệp vào sự
sống con người. Các nhà thần học luân lý (Moral Theologians) sử dụng chủ đề này
bằng nhiều cách khác nhau vào các vấn đề đạo đức học, trong nỗ lực cố gắng dung
hòa những căng thẳng về ý tưởng con người vừa là thụ tạo vừa là người đồng sáng
tạo với Thiên Chúa. Chẳng hạn, Bernard Häring đưa ra luận cứ thần học, minh nhiên
chống lại mọi hành vi can thiệp vào quá trình hấp hối để kết liễu mạng sống.
Ông nói rằng: quyền tự do của thụ tạo không trải rộng đến mức được tùy tiện chọn
lựa, buộc cái chết phải đến vào thời điểm và trong những điều kiện do chúng ta
qui định. Theo Häring, chúng ta thể hiện sự viên mãn của quyền tự do về cái chết
bằng sự đón nhận cái chết một cách tự nhiên. Chỉ bằng cách thể hiện sự tự do
như thế, tức nhìn nhận sự bất lực trước tử thần, chúng ta mới có thể chân thành
nhìn nhận mình hiện hữu như các thụ tạo của Thiên Chúa.[38] Như
thế, Häring biện luận từ niềm xác tín cơ bản của mình, rằng sự sống con người
là tặng phẩm thiêng liêng của Thiên Chúa, và ông khẳng định: “Sự sống được ủy
thác cho sự tự do và đồng trách nhiệm của con người. Con người không phải là chủ
nhân độc lập của sinh mạng mình, nhưng là người quản lý dưới quyền chủ tể của
Thiên Chúa.”[39]
Trái
lại, Richard Westley phản đối luận cứ này. Trên nền tảng niềm tin về sự nhập thể,
Westley phát biểu rằng: Thiên Chúa và con người kết hợp làm một đến nỗi không
thể nói tách bạch quyền của Thiên Chúa, quyền của con người. Theo Westley, mầu
nhiệm nhập thể cho ta biết rằng, Thiên Chúa đã quyết định làm cho công việc của
Ngài cũng là công việc của con người chúng ta. Vì Thiên Chúa sống trong ta, nên
bất cứ điều gì thuộc về quyền làm chủ của Thiên Chúa, thì cũng thuộc về chúng
ta.[40] Westley còn phản đối luận điểm về quyền
làm chủ tuyệt đối và quyền quản lý hạn chế dựa trên ý nghĩa của sự sống như “tặng
vật” của Thiên Chúa. Theo cái nhìn của Westley, nếu sự sống được ban cho như tặng
vật thì nó thuộc quyền tự do của chúng ta, chứ nói đến quyền quản lý trong văn
mạch ấy tức là lạc đề.[41]
Như
Westley, Daniel C. Maguire cũng nêu ra sự cân bằng giữa tạo hóa và thụ tạo
nhưng ông dựa trên những cơ sở khác. Maguire dựa vào lối chú giải về con người
xét như “hình ảnh của Thiên Chúa,” như người đồng sáng tạo với Thiên Chúa và
như người tham gia vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Trên cơ sở này, ông tìm được
khởi điểm để tiến đến một quyền hạn luân lý rộng lớn hơn về sự sống và sự chết,
so với quyền hạn trong luận cứ của Häring và trong những luận cứ truyền thống về
quyền làm chủ của Thiên Chúa, hay quyền quản lý của con người.[42]
Bruno
Schüller phản đối bất cứ ý kiến nào chống lại an tử mà chỉ dựa trên quyền làm chủ.
Theo ông, khái niệm quyền làm chủ không phải là “một luận cứ chống lại an tử”
mà chỉ là một điệp luận (tautology) và vì thế, theo Schüller, nguyên tắc về quyền
làm chủ chỉ đơn thuần tái phát biểu điều cần phải được chứng minh:
Thật
vậy, “không được phép tự tử” và “không có quyền làm chủ sự sống mình” là hai cụm
từ đồng nghĩa. Nếu ta nói chỉ duy Thiên Chúa là Chủ sự sống và sự chết của con
người thì, theo văn mạch, đây chỉ là một cách diễn đạt về điều cần phải được chứng
minh.[43]
Những ví dụ trên đây cho thấy một vài cách thức vận dụng nguyên tắc về quyền làm chủ của Thiên Chúa vào nền đạo đức sinh học hiện đại. Westley và Maguire không tán thành sự phân biệt nền tảng giữa tạo hóa và thụ tạo như Häring và, trước ông, truyền thống thần học Công giáo chủ trương. Schüller chỉ ra cho thấy những hạn chế của quyền làm chủ, xét như một nguyên tắc thần học trong luận cứ luân lý này. Do đó, không thể nói được rằng mọi người sẽ sẵn sàng chấp nhận nó mà trái lại, nó cần phải được chứng minh.
Copyright©2025
bởi tác giả: Linh mục Trần Mạnh Hùng, STD.
[1] .
Quý vị nào muốn biết thêm chi tiết về loạt bài này xin đọc tác phẩm: Sự sống và quyền bất khả xâm phạm: nền tảng luân lý cho xã hội (Hà
Nội: Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, 2020). Tác giả linh mục Trần Mạnh Hùng.
[2] Xem
Jonathan Glover, “The Sanctity of Life.” trong Helga Kuhse và Peter Singer, chủ
biên, Bioethics: An Anthology. (Great Britain: Blackwell
Publishers Ltd., 1998), tr. 193-202, ở tr. 193.
[3] Giáo
Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 2258, 2270, 2280.
[4] Bernard
Häring, từ xác tín cơ bản của mình, biện luận rằng sự sống con người là tặng vật
thiêng liêng của Thiên Chúa, và khẳng định: “Sự sống được giao phó cho sự tự do
và đồng trách nhiệm của con người. Con người chẳng phải là chủ tể độc lập của mạng
sống mình mà chỉ là người quản lý dưới quyền Thiên Chúa.” Xem Bernard
Häring, Free and Faithful in Christ, quyển 3. (New York:
Crossroad Publishing Co., 1981), tr.5.
[5] Richard
M. Gula, What Are They Saying about Euthanasia. (New York: Paulist
Press, 1986), tr. 26.
[6] Daniel
Callahan, Abortion, Law, Choice and Morality. (New York:
Macmillan Company, 1970). tr. 313.
[7] Callahan,
Sđd., tr. 310.
[8] James
Gustafson, The Contributions of Theology to Medical Ethics. (Wilwaukee:
Marquette University Theology Department, 1975), tr. 56; xem thêm Richard M.
Gula, What Are They Saying about Euthanasia. (New York: Paulist
Press, 1986), tr. 72.
[9] Norman
St. John Stevas, The Right to Life. (New York: Holt, Rinehart
and Winston, 1963), tr. 12.
[10] Khi
bàn về giá trị con người là “inalienable dignity”
(tạm dịch là phẩm giá bất chuyển nhượng hay bất khả nhượng) thì theo quan điềm
của Thần học gia Helmut Thielicke, phẩm giá này được ban cho tôi ngay từ khi Thiên Chúa tạo
dựng nên tôi, và vì phẩm giá được Thiên Chúa ban cho từ khởi thủy do lòng
thương yêu, nên nó luôn luôn ở với tôi, nó là của tôi một cách gắn bó, nó thực
sự là của tôi như mọi đặc tính khác của tôi và còn bền vững hơn nhiều. Hơn nữa,
vì phẩm giá con người là do “bất chuyển nhượng” nên con người không cần phải đạt
lấy nó, nó cũng không bị mất bao giờ. Nó không tùy thuộc vào màu da, phái tính,
trí khôn hay công trạng của tôi. Chính vì nó là giá trị “bất chuyển nhượng” nên
tôi không thể đem nó cho ai và cũng không ai lấy mất nó của tôi được. Nó không
thể xóa mờ vì là một dấu ấn của tình yêu Thiên Chúa thấm nhuần tận cốt tủy cuộc
sinh tồn của tôi. Vì phẩm giá bất chuyển nhượng của con người chỉ lệ thuộc vào
tình yêu Thiên Chúa, và vì tình yêu Thiên Chúa chung thủy, vững bền nên phẩm
giá của mỗi con người cũng bền vững, không phai lạt. Vì thế khi bàn về “phẩm
giá bất chuyển nhượng” là cách xứng hợp nhất để bảo đảm nền tảng giá trị không
thể chuyển nhượng của mỗi nhân vị. Thật vậy, phẩm giá bất chuyển nhượng bảo vệ
con người và sự sống con người là bất khả xâm phạm.
[11] Paul
Ramsey, “The Morality of Abortion.” trong Edward Bachelor Jr., chủ biên Abortion:
The Moral Issues. (New York: Pilgrim Press, 1982), tr. 78.
[12] Trình
thuật Sách Sáng Thế cho ta biết rằng ở chóp đỉnh của công cuộc sáng tạo vũ trụ
là một người nam và một người nữ được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Qua
mô-típ hình ảnh Thiên Chúa, Kinh Thánh khẳng định mạnh mẽ tính thánh thiêng của
con người, đó chính là phẩm giá. Mặc nhiên, trình thuật loan báo rằng chúng ta
được hưởng phẩm giá bất khả nhượng này là nhờ tình yêu Thiên Chúa. Chính tình
yêu này hình thành nên chúng ta, vượt trên mọi công trạng cá nhân và mọi phẩm chất
xã hội. (Kn 4-11). Xem Richard M. Gula, The Good Life: Where Morality
and Spirituality Converge. (New York: Paulist Press, 1999), chương một.
[13] Richard
M. Gula, The Good Life: Where Morality and Spirituality Converge. (New
York: Paulist Press, 1999), tr. 15.
[14] Charles
Curan phản đối khái niệm “alien dignity” của Ramsey với lý do là nó làm giảm
giá trị những cách thức đánh giá khác về sự sống vốn dựa trên “những phạm trù vốn
có trong sự sống con người”. Xem Charles E. Curan, Politics, Medicine,
and Christian Ethics: A Dialogue with Paul Ramsey. (Philadelphia:
Fortress Press, 1973), tr. 121.
[15] Richard
M. Gula, What Are They Saying about Euthanasia. (New York, Paulist
Press, 1986), tr. 28; Daniel Callahan, Abortion, Law, Choice and
Morality. (New York: Macmillan Company, 1970). tr. 313; xem thêm
Richard M. Gula, The Good Life: Where Morality and Spirituality
Converge. (New York: Paulist Press, 1999), tr. 3-8.
[16] Xem
Daniel Callahan, Abortion, Law, Choice and Morality. (New
York: Macmillan Company, 1970). tr. 313; Richard M. Gula, What Are They
Saying about Euthanasia. (New York, Paulist Press, 1986), tr. 29.
[17] Richard
M. Gula, What Are They Saying about Euthanasia. (New York: Paulist
Press, 1986), tr.30.
[18] Norman
St. John-Stevas, The Right to Life. (New York: Holt, Rinehart
and Winston, 1963), tr. 14.
[19] Xem
Gioan Phaolô II, “Hà Lan và An Tử”, xã luận trên nhật báo Quan Sát Viên
Rô-ma (L'Osservatore Romano) ngày 21-02-1993, in lại trong The
Pope Speaks, 38 (1993): 230-231. David Thomasma cũng cho chúng ta lời
cảnh báo: “Một khi niềm xác tín tôn giáo về nguồn gốc sự sống và sự chết đã tan
rã trong xã hội thì chúng ta thấy rằng mỗi cá nhân tự định đoạt sự sống của
mình.” Xem David C. Thomasma, “An Analysis of Arguments For and Against Euthanasia
and Assisted Suicide: Part One.” Cambridge Quarterly of Healthcare
Ethics 5 (1996): 69.
[20] James
Gustafson, The Contributions of Theology to Medical Ethics. (Milwaukee:
Marquette University Theology Department, 1975), tr. 62-3.
[21] David
Callahan, Abortion: Law, Choice and Morality. (New York: The
Macmillan Company, 1970), tr. 326.
[22] Xin
xem cuộc thảo luận hữu ích về “Qui tắc mô thể” và “Qui tắc chất thể” kèm theo
các ví dụ cụ thể trong Richard M. Gula, What Are They Saying about
Euthanasia. (New York: Paulist Press, 1986), tr. 54-89.
[23] Ví
dụ như sự sống của thai nhi trong lòng mẹ hay mạng sống của những người bệnh
nhân mắc phải những căn bệnh vô phương cứu chữa và có thể bị nhiều đau đớn trên
thân xác. Nhưng tất cả những con người nay đều là những kẻ vô tội, họ không làm
điều gì phạm pháp cả, nên chúng ta không có bất kỳ một lý do chính đáng nào để
tước đoạt mạng sống của họ.
[24] Richard
M. Gula, What Are They Saying about Euthanasia. (New York: Paulist
Press, 1986), tr.31.
[25] Đức
Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae (Tin Mừng Sự Sống):
Về Giá Trị và Tính Bất Khả Xâm Phạm của Sự Sống Con Người. (25-03-1995).
Bản tiếng Anh trong The Pope Speaks 40 (1995): 193-281.
[26] Robert
N. Wennberg, Terminal Choices: Euthanasia, Suicide, and the Right to
Die. (Michigan: WM. B. Eerdmans Publishing Co., 1989), tr. 94-95.
[27] Richard
M. Gula, What Are They Saying about Euthanasia. (New York: Paulist
Press, 1986), tr. 32.
[28] “Tuyên
Ngôn Về An Tử” khẳng định rằng: cố ý gây ra cái chết là chối bỏ quyền chủ tể
của Thiên Chúa đối với sự sống. Nguyên tắc quyền làm chủ thừa nhận rằng chúng
ta là thụ tạo chứ không phải Tạo Hóa. Sở dĩ việc giết người bị nghiêm cấm là vì
nó vi phạm quyền sở hữu của Thiên Chúa. Vì lý do này, truyền thống Công Giáo luôn
xem việc hủy hoại mạng sống người vô tội là “sự dữ nội tại” do khuyết thẩm quyền
(defect of right), bởi lẽ không ai có quyền làm điều ấy. Không ai được tự nhận
có toàn quyền làm chủ sinh mạng của mình và sinh mạng của người khác. Xem
Richard M. Gula, Euthanasia: Moral and Pastoral Perspectives. (New York,
Mahwah: Paulist Press, 1994), tr. 26.
[29] Richard
M. Gula, What Are They Saying about Euthanasia. (New York: Paulist
Press, 1986), tr. 30.
[30] Norman
St. John Stevas, The Right to Life. (New York: Holt, Rinehart
and Winston, 1963), tr. 12.
[31] Bernard
Häring, Free and Faithful in Christ, Vol. 3. (New York:
Crossroad Publishing Co., 1981), tr. 5.
[32] Paul
Ramsey, “The Morality of Abortion,” trong Edward Bachelor Jr., chủ biên Abortion:
the Moral Issues. (New York: Pilgrim Press, 1982), tr. 80-81.
[33] Thánh
Tôma Aquinô, “Tự Tử Có Hợp Luật Chăng,” trong Summa Theologica (Tổng Luận
Thần Học), II-II, q. 65, a. 64, ad. 3.
[34] Sđd.
[35] Hay
còn gọi là “sự dữ tự bản chất”.
[36] Thomas
J. O'Donnell, Medicine and Christian Morality. (New York: Alba
House, 1976).
[37] Sđd.,
tr. 42-43.
[38] Bernard
Häring, Medical Ethics. (Notre Dame: Pides Publishers, 1973),
tr. 149; xem thêm Richard M. Gula, Euthanasia: Moral and Pastoral
Perspectives. (New York, Mahwah: Paulist Press, 1994), tr. 14.
[39] Bernard
Häring, Free and Faithful in Christ, Vol. 3. (New York:
Crossroad Publishing Co., 1981), tr. 5.
[40] Richard
Westley, Catholic Perspectives: The Right to Die. (Chicago:
Thomas More Press, 1980), tr. 91-92.
[41] Sđd.
[42] Daniel
C. Maguire, Death by Choice. (Garden City: Doubleday &
Company, Inc., 1984), tr. 119.
[43] Richard
A. McCormick, “The New Medicine and Morality,” Theology Digest 21
(Mùa đông 1973): 315.



